Ngữ văn 11: Đề ôn tập Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại kí (có đáp án)

Web Publisher User
Sách ID: 202604333667


MÔN NGỮ VĂN

MÃ ĐỀ: 01

Đọc đoạn trích:

“Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966.

Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, linh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng¹ ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đầy sinh thú². Đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.

Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng cũng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người, chưa ai dám nói đến mật bướm.”

(Trích Tờ hoa³, Tuyển tập Nguyễn Tuân⁴(tập 2) Nxb Văn học, 1998, trang 5,6)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Đối tượng chủ yếu nhân vật “tôi” đề cập đến đoạn trích trên là gì?

Câu 2: Xác định ngôi kể trong đoạn trích trên?

Câu 3: Theo tác giả, đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về điều gì?

Câu 4: Tác dụng của sự kết hợp các yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích trên?

Câu 5: Qua bài kí, anh/chị thấy tác giả là người thế nào?

Câu 6: Qua mạch liên tưởng về loài ong, theo anh/chị, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào của cuộc sống?

Câu 7: Anh/Chị có đồng tình với quan niệm: “Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” trong đoạn trích hay không? Vì sao?

Câu 8: Từ nội dung đoạn trích, hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 6 đến 8 dòng) trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của lòng kiên nhẫn?

GỢI Ý LỜI GIẢI

Câu 1: Đối tượng chủ yếu nhân vật “tôi” đề cập đến đoạn trích trên là: Loài ong và đời sống của chúng.

Câu 2: Ngôi kể của đoạn trích: Ngôi thứ nhất.

Câu 3: Theo tác giả, đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về : Tính kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo.

Câu 4: Tác dụng của sự kết hợp các yếu tố tự sự và trữ tình trong đoạn trích trên:

- Chỉ ra được ít nhất 01 yếu tố tự sự và 01 yếu tố trữ tình trong các ý sau:

+ Yếu tố tự sự là các sự kiện được nói đến trong đoạn trích:

++ Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966.

++ Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, linh hồn xuất theo luôn với nọc đốt.

++ Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng; và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa.

+ Yếu tố trữ tình là khung cảnh thiên nhiên đẹp và cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật “tôi”:

++ Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong

++ Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời.

++ Cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì.

++ Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào.

- Tác dụng của việc kết hợp hai yếu tố đó:

+ Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt. Đoạn văn sinh động, hấp dẫn và thuyết phục người đọc.

+ Thể hiện rõ nét đặc trưng của thể loại kí: sự kết hợp linh hoạt giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình. Từ đó thể hiện phong cách nghệ thuật của người viết.

+ Khắc họa chân thực, khách quan về loài ong và đời sống của nó. Từ đó, để nhà văn thể hiện cảm xúc, cùng những suy tư trữ tình về loài ong, về người nghệ sĩ và nghề viết văn.

Câu 5: Qua bài kí, em thấy tác giả là người:

- Có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm. Có tài quan sát tỉ mỉ, miêu tả sinh động hấp dẫn.

- Có sự am hiểu sâu rộng, nhiều trải nghiệm về loài ong và cuộc sống.

- Có khả năng liên tưởng, tưởng tượng phong phú, đa dạng.

- Có những chiêm nghiệm, suy tư sâu sắc về thiên nhiên, cuộc sống và văn chương.

Câu 6: Qua mạch liên tưởng về loài ong, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp của cuộc sống:

- Vẻ đẹp của thế giới tự nhiên muôn màu: vẻ đẹp của những vùng đất trong bán kính 8.000.000 cây số; vẻ đẹp và hương thơm của 5 vạn thứ hoa; vẻ đẹp của rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong.

- Vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, sáng tạo, khổ đau âm thầm: vẻ đẹp của quá trình lao động cần mẫn, chăm chỉ của những nhà khoa học nghiên cứu về đời sống của loài ong; vẻ đẹp của quá trình sáng tạo nghệ thuật lặng thầm của người nghệ sĩ đang nung nấu trong tâm hồn.

Câu 7: Anh/chị có đồng tình với quan niệm: “Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” trong đoạn trích hay không? Vì sao?

- HS nêu quan điểm: đồng tình hoặc không đồng tình.

- Lí giải:

+ Nếu đồng tình, lí giải theo hướng:

++ Kết quả của quá trình chăm chỉ, nỗ lực, cố gắng từng ngày, từng giờ của mỗi con người đều sẽ tạo ra những giá trị nhất định.

++ Những giá trị đó dù nhỏ bé hay lớn lao cũng đều đóng góp cho cuộc đời, cho con người, cho nghệ thuật.

+ Nếu không đồng tình, lí giải theo hướng:

++ Sự cố gắng, nỗ lực của con người không phải lúc nào cũng đem lại hiệu quả và tạo ra những giá trị nhất định. Sự cố gắng, nỗ lực không hướng đến mục tiêu chính, không phù hợp với năng lực, sở trường của bản thân thì sẽ không đem lại hiệu quả cao.

++ Những giá trị được tạo ra không phải giá trị nào cũng đóng góp cho cộng đồng, xã hội nếu nó không được xuất phát từ một cái tâm trong sáng.

Câu 8: Từ nội dung đoạn trích, hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 6 đến 8 dòng) trình bày suy nghĩ của bản thân về vai trò của lòng kiên nhẫn?

-Về hình thức, HS cần viết đúng hình thức đoạn văn, diễn đạt rõ ràng, trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả.

- Về nội dung cần đảm bảo những ý sau:

+ Giải thích: kiên nhẫn là sự kiên trì, nhẫn nại, bình tĩnh trước mọi vấn đề, mọi khó khăn để tìm ra cách giải quyết tốt nhất cho bản thân.

+ Vai trò của lòng kiên nhẫn: Kiên nhẫn giúp con người có ý chí bền bỉ hơn để theo đuổi mục tiêu, ước mơ; giúp con người xử lí những vấn đề bất ngờ một cách tốt hơn; giúp con người điềm tĩnh hơn, sáng suốt hơn.....

MÃ ĐỀ: 02

Đọc đoạn trích sau:

Cho đến nay, dải đất ven sông Hương từ cầu Bạch Hổ lên chùa Thiên Mụ vẫn ấp ủ trong những vườn tược của nó, dáng dấp văn hoá của một trung tâm đô thị Việt Nam cổ. Chính trên mảnh đất này, thành phố Huế đã ra đời từ năm đó – năm 1636 – và Kim Long trở thành thủ phủ nổi tiếng của Đàng Trong trong suốt năm mươi năm tiếp theo. Cuộc sống phồn vinh, văn vẻ của mảnh đất Thuận Hóa trong thời kỳ này đã được phản ánh một cách khá đầy đủ trong nhiều sách vở để làm, tưởng không không cần nhắc lại làm gì. Điều thú vị đối với tôi khi đọc lại, ấy là khi họ đến đây, nhiều người nước ngoài đều ngạc nhiên nhận xét rằng phụ nữ Kim Long ăn mặc rất đẹp; lý do là nghề dệt gấm thêu hoa đang thịnh hành khắp các phường thợ ven sông Hương. Có lẽ phụ nữ Huế giỏi thêu thùa, biết mặc đẹp, bắt đầu từ cái thời xa xôi ấy. Nên không lạ gì, một người khách du đã đi nhiều nơi trên thế giới hồi ấy là cố đạo A-lec-xăng đơ Rốt, khi viết về “Kehue” (Kẻ Huế) đã nhắc lại nhiều lần rằng đây là một “thành phố lớn”

Trước thời các chúa Nguyễn đến cắm đô ở đây, vùng Trung du ven sông Hương này đã xuất hiện những thôn hoa xanh biếc rậm rạp, dân cư sống bằng nghề vườn đã lâu đời. Sau này, như đã nhấn mạnh trong các hồi ký về thành phố Kim Long thời ấy, thì các công thự cũng như nhà riêng, đều được xây cất giữa những khu vườn xanh tươi, đầy các thứ cây quý hoa lạ sưu tầm từ khắp xứ mang về. Đến lượt Phú Xuân, khi đã trở thành kinh đô của cả một đất nước sôi động những chiến công, dưới thời Quang Trung, Phú Xuân vẫn giữ riêng một phong thái yên tĩnh đầy chất thơ điền dã. Tôi rất cảm mến bà Lê Ngọc Hân, nàng công chúa đất Thăng Long vào đây làm Hoàng hậu, để trở nên một nhà thơ Huế. Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím nồng đượm mà hương thơm nức phòng the” (*). Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu! Nhà thở và người anh hùng đã xa khuất, không để lại mộ chí, riêng còn trong câu thơ một nét mặt thành phố trong sáng muôn đời.

[...]

Bến đò Trường Thi ngày xưa nay là bãi khoai ngô Hợp tác xã, khu quán chợ nơi Lục Vân Tiên và Cao Bá Quát từng ngồi, bây giờ tĩnh mịch một ngôi chùa cổ, còn Quốc Tử Giám và cả khu hoa viên của Lê Văn Duyệt đã ngủ sâu dưới cây trái trong vườn dân. Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời. An Hiên... Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu. Còn những nhân vật trường ốc cũ, qua cuộc đổi đời đã trở thành những người dân làng, biết trồng cây, biết đọc sách và biết sống giữ lề...

Suốt ba trăm năm mươi năm xây dựng, Huế đã dời chỗ theo một vết dài chừng năm cây số dọc sông Hương, để lại đằng sau nó bản phác thảo đầu tiên của cái mô hình thành phố vườn bây giờ. Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại. Để trả lời cho các thế hệ tương lai về những kinh nghiệm sống làm giàu có thêm nhân loại...

(Hoa trái quanh tôi – Hoàng Phủ Ngọc Tường - NXB Trẻ 1995, trang 26, 27, 28)

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1: Chỉ ra một (01) câu văn chứa yếu tố trữ tình.

Câu 2: Nhân vật “nhà thơ” và “người anh hùng” được nhắc tới trong đoạn trích là những ai?

Câu 3: Theo đoạn trích, thành phố Huế còn có những tên gọi khác nào?

Câu 4: Cách nhà văn gợi nhắc đến những văn nhân trong câu văn: “Dưới những mái hiên yên tĩnh kia, đã nẩy mầm kết trái bao nhiêu điều không ai biết, trong lý tưởng nhân đạo của Nguyễn Du, trong cái chính khí nổi giận của Cao Bá Quát, trong mộng kinh bang của Nguyễn Công Trứ và lòng Đạo của Nguyễn Đình Chiểu” có tác dụng gì?

Câu 5: Theo anh/chị, tác giả đã khẳng định điều gì qua câu văn: “Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại”?

Câu 6: Con số “ba trăm năm mươi năm xây dựng” xuất hiện trong đoạn trích có ý nghĩa diễn tả điều gì về xứ Huế?

Câu 7: Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho quê hương đất nước được thể hiện trong đoạn trích.

Câu 8: “Nhưng mà nếp nhà cũ vẫn còn; cái liêu ở chái trên có vách gỗ, chắn song nhìn ra vườn, nơi mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời”. Theo em, xứ Huế ngày nay có cần lưu giữ “nếp nhà cũ” không? Vì sao?

GỢI Ý LỜI GIẢI

Câu 1: Chỉ ra 01 câu văn chứa yếu tố trữ tình .

Ví dụ:

- Ôi, tình yêu của bà, cuộc đời của bà, bão táp mà thanh tịnh biết bao nhiêu!

- Vâng, phải là Huế biết mấy mới nhìn thấy được điều này: “Sương mù sắc tím nồng đượm mà hương thơm nức phòng the”

Câu 2: Nhân vật “nhà thơ” và “người anh hùng” được nhắc tới trong đoạn trích là: Lê Ngọc Hân và Quang Trung

Câu 3: Thành phố Huế còn có những tên gọi khác như:

- Thành phố Kim Long.

- Kinh đô Phú Xuân.

Câu 4:

- Tác giả đã nhắc đến các danh nhân: Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Đình Chiểu.

- Việc nhắc đến các danh nhân đó có tác dụng:

+ Nhấn mạnh vai trò, sự gắn kết của xứ Huế với những giá trị văn hóa, văn học của dân tộc. Xứ Huế nói chung và nhà vườn An Hiên nói riêng là nơi hình thành, nuôi dưỡng những tư tưởng nhân đạo, những khát vọng lớn lao, những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc.

+ Thể hiện thái độ trân trọng, ngợi ca của tác giả dành cho các danh nhân dân tộc; dành cho mảnh đất xứ Huế nghìn năm văn hóa.

+ Góp phần làm cho đoạn văn sinh động, hấp dẫn, thấm đượm giá trị lịch sử, văn hóa; thể hiện được nét đặc trưng của thể loại kí văn học: có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình; thể hiện được phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường: sự uyên bác cùng lối hành văn hướng nội, tài hoa.

Câu 5: Qua câu văn: “Lịch sử đổi thay, con người đi qua, nhưng những thành phố còn lại”, tác giả đã khẳng định:

- “Đổi thay”, “đi qua”, “còn lại” không chỉ là những động từ thể hiện sự biến đổi, dịch chuyển hay sự tiếp tục mà còn ẩn chứa sự đối lập giữa sự trôi chảy, biến đổi với sự bất biến, trường tồn.

- Qua đó, tác giả muốn khẳng định với chúng ta về sự trường tồn, bất biến của những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của thành phố Huế nói riêng và các thành phố khác nói chung. Thời gian vận động, biến đổi không ngừng, các giai đoạn lịch sử sẽ khác đi, các thế hệ con người cũng sẽ thay đổi nhưng vẻ đẹp về văn hóa, cảnh sắc, cốt cách con người Huế thì vẫn còn mãi.

Câu 6: Con số “ba trăm năm mươi năm xây dựng” xuất hiện trong đoạn trích có ý nghĩa:

- “Ba trăm năm” là cụm từ chỉ thời gian, gợi về một khoảng thời gian dài. Đó là khoảng thời gian gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của xứ Huế.

- Cụm từ thời gian đó có ý nghĩa nhấn mạnh quá trình hình thành và phát triển đến ngày hôm nay của xứ Huế không hề dễ dàng mà phải vượt qua bao thăng trầm, thử thách của lịch sử của thời gian.

- Đồng thời, khẳng định sự trường tồn bất biến của vẻ đẹp và giá trị văn hóa của xứ Huế, một vẻ đẹp cổ kính lâu đời mà vẫn hiện đại. Vẻ đẹp và giá trị đó đã vượt lên trên sự thử thách của thời gian, sự biến thiên của lịch sử.

- Qua đó, tác giả thể hiện niềm tự hào, sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử phát triển của xứ Huế.

Câu 7:

- Đoạn trích đã thể hiện tình cảm của tác giả dành cho xứ Huế nói riêng và quê hương, đất nước nói chung.

+ Đó là niềm tự hào về một vùng đất cố Đô đã trải qua hơn ba trăm năm, là niềm tự hào về một đất nước nghìn năm văn hiến với biết bao những danh nhân văn hóa, lịch sử lỗi lạc của dân tộc.

+ Đó là tình yêu tha thiết về vẻ đẹp của thiên nhiên, con người nơi xứ Huế và cũng là vẻ đẹp của quê hương đất nước và con người Việt Nam.

+ Đó còn là niềm tin yêu, mãnh liệt về sự trường tồn bất biến của vẻ đẹp, của những giá trị văn hóa mà xứ Huế nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung đã khắc tạc lên trong suốt hành trình dài của lịch sử.

- Đó là những tình cảm thiêng liêng, cao quý xuất phát từ một trí tuệ siêu việt, một trái tim nồng nàn, say đắm. Từ đó, góp phần bồi đắp tình yêu quê hương đất nước vốn có trong mỗi con người.

Câu 8:

* Học sinh bày tỏ quan điểm của mình, lí giải hợp lí, thuyết phục

* Có thể theo hướng sau:

- Em đồng tình với quan điểm của tác giả: “nếp nhà cũ vẫn còn và mỗi nhà là chốn đèn sách bao đời”.. Vì thế em cho rằng: xứ Huế ngày nay cần phải lưu giữ “nếp nhà cũ”

- Bởi vì:

+ Nếp nhà cũ là những chuẩn mực, là những giá trị tinh hoa văn hóa, những điều tốt đẹp được chưng cất qua lịch sử ngàn đời tạo nên vẻ đẹp truyền thống, cổ kính của xứ Huế, một vẻ đẹp riêng đậm chất Huế.

+ Lưu giữ nếp nhà giúp cho con người xứ Huế sống có văn hóa, đạo đức, biết coi trọng giá trị tinh thần cao quý.

+ Lưu giữ nếp nhà cũng là giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam trong thời kì hội nhập và phát triển hiện nay.

MÃ ĐỀ: 03

Đọc đoạn trích sau:

Đặt vào ngày cuối Đông đầu Xuân, ngày Tết Nguyên Đán còn có một thâm ý sâu xa hơn nữa; theo Từ Nguyên, xuân có nghĩa là “trai gái vừa lòng nhau”, xuân là cựa động, băng giá tan hết, muôn vật đến mùa xuân đều cựa động mà sống lại. Từ quan niệm ấy, người mình tiến đến tín ngưỡng thờ Thần Đất. Họ tin rằng trong không, thời gian mà Thần Đất vắng mặt trên trần thì không ai được động chạm đến đất như cày bừa cuốc xới lên hay giã gạo làm cho vang động đất. Ngày Tết, do đó, có ý nghĩa là đón đợi sự trở về của Thần Đất: người ta chờ lúc cây cối đâm lộc nảy mầm, muôn vật trở lại cuộc sống bình thường, chỉ sợ vì một cớ gì bí mật, không phồn thịnh và sản xuất như xưa nữa. Họ tin rằng nếu không kiêng kị thì Thần Đất không phù hộ loài người và sẽ làm cho cây cối, con người, súc vật, của cải không thể nào phát triển (...)

Có ai ở tỉnh thành ăn Tết ngày mồng một rồi đến mồng hai, mồng ba đi về những vùng đất thơm ngát hoa đồng cỏ nội mới thật thấy cái tết của ta đẹp biết ngần nào, êm ái biết ngần nào. Người nông dân vất vả quanh năm, được mấy ngày ấy nhất định nghỉ không ra đồng. Chè chén đã đành rồi, nhưng tội gì mà chẳng vui chơi để giải quyết sự thèm khát giải trí mà vua quan ngày trước không hề nghĩ tổ chức bao giờ. Vì thế, nghe thấy đầu xuân có hát tuồng cổ “Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng” hay “Dự Nhượng tam đả long bào”, ở cách xa nơi họ ở dăm mười cây số, họ cũng cố đi xem cho kì được (...). Tại vài làng mát mặt ở Bắc Việt, các đàn anh vào dịp tết vẫn rủ nhau rước ả đào, tuồng cổ, phường chèo về diễn (...).

Ngày Tết, bước ra khỏi Hà Nội một hai cây số ta có thể thấy ở bất cứ làng nào cũng có trồng một vài cây đu để cho trai gái trong làng hay những vùng quanh đấy đến dún dẩy với nhau (...). Cây đu làm bằng tám cọc tre, trồng rất chắc dưới đất vì trồng càng chắc thì dún càng khỏe. Cái ngáng đu vận bằng rơm, giữ hai hàng cột gioãng ra hai bên (...). Đu càng cao, các cô, các cậu càng đưa mạnh. Các cậu cố dún. Các cô ưỡn thêm lên (...). Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc áo the thâm của chàng trai, đôi giải yếm lụa quấn quýt lấy chiếc quần hồ trắng bốp... hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa tình (...)

Ai đã ở Bắc vui mấy ngày xuân, thế nào mà chẳng có lúc đã nghe thấy người ta hát:

Bơi Đăm, rước Giá, hội Thầy,

Vui thì vui vậy chẳng tày Giã La... (...)

Ngày Tết ở Bắc, rỗi rãi mà đi xem hết hội này đến lễ kia như thế, phải nói thật quả là mình sung sướng như tiên. Tết đi thăm nhau, chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu với nhau, vui quá thể, ai mà lại còn không biết; nhưng vui thấm thía, vui ý nghĩa, vui sâu xa thì phải nói thực, đó là nhờ những đám rước, những tục cổ, những trò chơi như thế.

Xin Trời Phật phù hộ cho không bao giờ có những ngày xuân, ngày tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những người không được thương yêu; không bao giờ có những cây không nảy lộc, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác...

(Trích “Tết, Hỡi cô mặc cái yếm xanh”,

“Thương nhớ mười hai”, Vũ Bằng, Nxb Văn học)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Trong văn bản, từ “xuân” được giải thích là gì?

Câu 2: Chỉ ra các trò chơi dân gian được chơi trong dịp Tết.

Câu 3: Thông tin khách quan nào được tác giả sử dụng trong đoạn văn: Ngày Tết, bước ra khỏi Hà Nội một hai cây số ta có thể thấy ở bất cứ làng nào cũng có trồng một vài cây đu để cho trai gái trong làng hay những vùng quanh đấy đến dún dẩy với nhau (...). Cây đu làm bằng tám cọc tre, trồng rất chắc dưới đất vì trồng càng chắc thì dún càng khỏe. Cái ngáng đu vận bằng rơm, giữ hai hàng cột gioãng ra hai bên (...). Đu càng cao, các cô, các cậu càng đưa mạnh. Các cậu cố dún. Các cô ưỡn thêm lên (...). Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc áo the thâm của chàng trai, đôi giải yếm lụa quấn quýt lấy chiếc quần hồ trắng bốp... hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa tình (...)

Câu 4: Nêu hiệu quả của phép tu từ liệt kê được sử dụng trong câu văn sau: Tết đi thăm nhau, chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu với nhau, vui quá thể, ai mà lại còn không biết; nhưng vui thấm thía, vui ý nghĩa, vui sâu xa thì phải nói thực, đó là nhờ những đám rước, những tục cổ, những trò chơi như thế.

Câu 5: Dưới ngòi bút của tác giả, sắc màu riêng của dịp Tết Nguyên Đán hiện lên như thế nào?

Câu 6: Chất trữ tình được thể hiện như thế nào trong trong đoạn trích?

Câu 7: Nhận xét về mong ước của tác giả khi Tết đến, xuân về qua đoạn văn sau: Xin Trời Phật phù hộ cho không bao giờ có những ngày xuân, ngày tết không có hoa và bướm, không bao giờ có những người không được thương yêu; không bao giờ có những cây không nảy lộc, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác...

Câu 8: Hiện nay có quan điểm cho rằng nên bỏ Tết truyền thống. Anh/chị có đồng tình với quan điểm này không? Vì sao?

GỢI Ý LỜI GIẢI

Câu 1: Trong văn bản, từ “xuân” được giải thích là:

- “trai gái vừa lòng nhau”,

- là cựa động, băng giá tan hết, muôn vật đến mùa xuân đều cựa động mà sống lại.

Câu 2: Các trò chơi dân gian được chơi trong dịp Tết.

- Xem hát tuồng cổ

- Chơi đu quay

- Đánh cờ, đánh kiệu

Câu 3: Thông tin khách quan được tác giả sử dụng trong đoạn văn là:

- Vào dịp Tết, ở các làng quê ngoại thành Hà Nội đều trồng một vài cây đu.

- Cây đu được làm bằng tám cọc tre, trồng chắc dưới đất. Ngáng đu được vận bằng rơm dùng để giữ hai hàng cột gioãng hai bên.

- Cây đu thu hút sự tham gia của nam nữ trong những ngày Tết.

Câu 4:

- Phép liệt kê được sử dụng trong câu văn là: liệt kê các việc làm, trò chơi, phong tục trong dịp Tết: đi thăm nhau, chúc mừng nhau, uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu; những đám rước, những tục cổ và niềm vui của con người: vui thấm thía, vui ý nghĩa, vui sâu xa.

- Hiệu quả:

+ Khắc họa cụ thể, chi tiết khung cảnh sinh hoạt nhộn nhịp, náo nức, cùng những phong tục đẹp, ý nghĩa của người Việt Nam trong dịp Tết nguyên đán.

+ Làm cho câu văn giàu nhịp điệu, giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn

+ Thể hiện tâm trạng vui tươi, háo hức cùng niềm tự hào của tác giả về những phong tục cổ truyền của dân tộc trong dịp Tết nguyên đán.

Câu 5: Trong con mắt quan sát và cảm nhận của tác giả, sắc màu riêng của dịp Tết nguyên đán được hiện lên với những đặc điểm sau:

- Khung cảnh thiên nhiên trong dịp Tết Nguyên Đán:

+ Thiên nhiên, vạn vật đang đón đợi sự trở về của Thần Đất cho cây cối đâm lộc nảy mầm, muôn vật trở lại cuộc sống.

+ Những vùng đất ngoại thành thơm ngát hoa đồng cỏ nội.

- Con người và cuộc sống sinh hoạt trong dịp Tết Nguyễn Đán

+ Tết Nguyên Đán là dịp con người cho phép bản thân nghỉ ngơi, không ra đồng làm việc, tìm đến những loại hình nghệ thuật, những trò chơi dân gian để vui chơi, giải trí.

+ Tết Nguyễn Đán còn là dịp để những gánh hát ả đào, tuồng cổ, phường chèo có dịp được biểu diễn, là dịp để tổ chức những trò chơi dân gian như đánh đu, đánh cờ, đánh kiệu.

+ Tết là dịp để con người kết nối lại với nhau: thăm nhau, chúc mừng nhau, cùng uống rượu ăn mứt, ăn kẹo với nhau, đánh cờ đánh kiệu với nhau.

+ Tết là khoảng thời gian đẹp nhất mà không bao giờ có những người không được thương yêu, những cặp mắt không sáng ngời và cũng không bao giờ lại có những con người xảo trá, tham tàn, độc ác...

Câu 6:

- Chất trữ tình được bộc lộ qua cảm xúc của tác giả cùng với cách thể hiện đa dạng, độc đáo:

+ Đó là niềm vui sướng, phấn chấn, rạo rực khi được chứng kiến vạn vật cỏ cây, hoa lá trong những tháng ngày “vừa lòng nhau”; là niềm khao khát, mong chờ “sự trở về của Thần Đất” sẽ khiến cho vạn vật cây cối đâm lộc nảy mầm trong những ngày xuân Tết Nguyên Đán.

+ Đó còn là niềm háo hức, mong chờ được đi về với những vùng đất thơm ngát hoa đồng cỏ nội, được đi nghe hát tuồng cổ “Quan Vân Trường quá ngũ quan trảm lục tướng” hay “Dự Nhượng tam đả long bào”; được chứng kiến cảnh chơi đu của trai gái trong làng.

+ Đó là niềm sung sướng, hạnh phúc khi được rỗi rãi để đi xem hội; gặp gỡ, chúc mừng, uống rượu ăn mứt, đánh cờ đánh kiệu.

+ Đó là niềm khao khát, mong ước cho những ngày Tết luôn tràn ngập hoa và bướm, vạn vật cây cối đâm chồi nảy lộc, con người luôn được yêu thương.

- Chất trữ tình của đoạn trích khi thì được thể hiện trực tiếp, khi thì được thể hiện gián tiếp qua những hình ảnh khách quan của cuộc sống có sức lay động tình cảm người đọc nhờ cách tái hiện của tác giả. Chất trữ tình xuất hiện xuyên suốt đoạn trích, trở thành yếu tố nổi trội, đúng với đặc trưng của tản văn.

Câu 7: Nhận xét về mong ước của tác giả khi Tết đến, xuân về:

- Mong ước của tác giả khi Tết đến, xuân về qua đoạn văn là: ngày nào cũng có bướm hoa; ai cũng được thương yêu, ngập tràn hạnh phúc, sáng ngời niềm lạc quan, tin yêu; cây cối đâm chồi nảy lộc; không còn người xảo trá, tham tàn, độc ác.

- Đó là mong muốn về cuộc sống tươi đẹp dành cho vạn vật muôn loài, dành cho con người, cuộc đời của một con người yêu đời, yêu người. Mong muốn đó rất chân thành, sâu sắc, thấm đượm giá trị nhân văn cao đẹp và được tác giả bộc lộ trực tiếp.

Câu 8: Hiện nay có quan điểm cho rằng nên bỏ Tết truyền thống. Anh/chị có đồng tình với quan điểm này không? Vì sao?

- HS bày tỏ quan điểm: đồng tình/ không đồng tình/ cả hai

- Lí giải cho sự lựa chọn ấy.

+ Nếu không đồng tình, có thể lí giải như sau:

++ Đây là phong tục cổ truyền của dân tộc;

++ Là dịp để mọi người trong gia đình sum họp, đoàn viên; là dịp để con cháu thể hiện lòng biết ơn với cha mẹ, ông bà;

++ Là thời gian nghỉ ngơi cần có để giảm căng thẳng trong công việc;

++ Là dịp để kích cầu kinh tế, thu hút khách du lịch do lệch với các ngày lễ của Phương Tây...

+ Nếu có đồng ý thì có thể lí giải theo hướng:

++ Quá tốn kém và lãng phí;

++ Đảo lộn lịch trình làm việc, học tập của mọi người;

++ Gia tăng tai nạn do rượu bia; nạn cờ bạc...

+ Nếu vừa đồng ý vừa không: Kết hợp hai các lí giải trên.

MÃ ĐỀ: 04

Đọc văn bản sau:

MÙI RƠM RẠ QUÊ MÌNH...

- Ngọc Bích -

(1) Tôi sinh ra từ một vùng sâu vùng xa ở bưng biền Đồng Tháp, lớn lên giữa hương đồng cỏ nội. Nơi tôi sống ruộng lúa không hẳn là thẳng cánh cò bay mà đủ ngan ngát mùi rơm rạ sau mỗi mùa gặt.

(2) Đối với những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê thì dường như cánh đồng đã trở thành một phần ký ức chẳng thể nào quên, bởi nó gắn liền với tuổi thơ – phần thời gian trong trẻo nhất của một đời người.

(3) Trong ký ức của tôi, bức tranh đồng quê sống động một cách kỳ lạ. Đó là những sân phơi trải đầy lúa vàng, tụi con nít vẫn hay đi tới đi lui trên những thảm lúa ngoài sân để lúa mau khô, những bước chân nhỏ xinh in ngang dọc trên đệm lúa vàng. Chúng bước nhanh thật nhanh để tránh cái nắng trên đầu và cái nóng hừng hực dưới chân. Ngày mùa trong tôi còn là những ụ rơm, nhánh rạ trơ ra sau vụ gặt. Đâu đâu cũng thấy rơm rạ ngút ngàn, vàng những lối đi.

(4) Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi. Mùi rơm rạ là mùi của đồng ruộng, mùi của mồ hôi ba ngày vác cuốc ra đồng, mùi của niềm vui mùa lúa trúng, mùi nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ sau mỗi vụ thất thu.

(5) Nồi cơm mới thơm lừng, không những thơm bởi hạt gạo mà còn vì được đun bằng bếp rơm, lửa cháy bùng, cơm sôi ùng ục. Đó là cái mùi cứ phảng phất theo tôi, để rồi những tháng năm sau đóm tôi đi khắp mọi miền, đi qua những đồng lúa xanh tít mắt bất chợt nhớ đến mùi thơm ấy, mùi hương của rơm rạ và mùi của chén gạo thơm hương lúa mới. Cái mùi ấy ngan ngát trong lồng ngực không dễ quên của biết bao con người lớn lên từ ruộng đồng như tôi.

(6) [...] Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi... sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc. Chao ôi, cái mùi rạ nồng nồng khó tả.

(7) Mỗi lần về nhà đúng mùa gặt lúa, tôi hít lấy một hơi thật sâu như muốn nuốt hết cái không khí ấy, nhớ về mình còn là đứa trẻ của những tháng năm xưa. Những tháng năm đầu trần ngồi máy kéo ra đồng nghịch rơm, những tháng năm còn được nằm trọn trong vòng tay của ba mẹ.

(8) Có sợi rơm nào bay theo gió vương qua cành lá non, phảng phất hương vị của mùa mới, mùa của yêu thương, ước vọng và hy vọng. Tôi mang theo những khát khao, những ước mơ của mình gửi vào hương vị đó để thấy ấm áp, góp nhặt yêu thương cho riêng mình.

(9) Những kí ức tuổi thơ gắn liền với mùi rơm rạ quê hương bỗng chốc ùa về làm cho con đường đến sân bay trở nên ngắn ngủi. Tôi và anh tài xế công nghệ kia tạm gác lại những ký ức miền Tây thân thương của mình để hoà vào nhịp sống hối hả. Tôi tin là nó chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người rồi đến khi gặp người “rà đúng tần số” hoặc đôi khi chỉ cần nhắc về hai tiếng miền Tây thì những ký ức thân thương ấy lại ào ạt ùa về. Đã là tuổi thơ, là quê hương thì làm sao mà quên cho được.

(Nhiều tác giả, Nghĩa tình miền Tây, NXB Hồng Đức, 2022, tr. 41-44)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Trong văn bản sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nào?

Câu 2: Theo tác giả, tại sao với những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê, cánh đồng lại trở thành một phần kí ức không thể nào quên?

Câu 3: Chỉ ra 01 câu văn có yếu tố tự sự và 01 câu văn có yếu tố trữ tình trong văn bản.

Câu 4: Phân tích tác dụng của việc kết hợp hai yếu tố tự sự và trữ tình trong các đoạn (3), (4), (5) của văn bản.

Câu 5: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được dùng trong đoạn (4).

Câu 6: Em nhận xét như thế nào về tình cảm của tác giả trong đoạn trích?

Câu 7: Em có đồng ý với quan điểm của tác giả rằng: những ký ức “chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người” không? Vì sao?

Câu 8: Theo em, kí ức tuổi thơ có ý nghĩa gì trong cuộc sống con người? Hãy trả lời từ 8-10 dòng.

GỢI Ý LỜI GIẢI

Câu 1: Trong văn bản sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm.

Câu 2: Theo tác giả, những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê, cánh đồng lại trở thành một phần kí ức không thể nào quên vì nó gắn liền với tuổi thơ – phần thời gian trong trẻo nhất của một đời người.

Câu 3: Chỉ ra được 01 câu văn có yếu tố tự sự và 01 câu văn có yếu tố trữ tình. Chẳng hạn:

- Yếu tố tự sự: “Đó là những sân phơi trải đầy lúa vàng, tụi con nít vẫn hay đi tới đi lui trên những thảm lúa ngoài sân để lúa mau khô, những bước chân nhỏ xinh in ngang dọc trên đệm lúa vàng. Chúng bước nhanh thật nhanh để tránh cái nắng trên đầu và cái nóng hừng hực dưới chân."

- Yếu tố trữ tình: “Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi.”

Câu 4: Tác dụng của việc kết hợp hai yếu tố tự sự và trữ tình:

- Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt. Đoạn văn sinh động, hấp dẫn và thuyết phục người đọc.

- Thể hiện rõ nét đặc trưng của thể loại kí: sự kết hợp linh hoạt giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình. Từ đó thể hiện phong cách nghệ thuật của người viết.

+ Tái hiện chân thực, khách quan những kí ức tuổi thơ tươi đẹp gắn với cánh đồng quê hương. Từ đó, nhà văn thể hiện tâm tư cảm xúc của chính mình về cánh đồng, về quê hương.

Câu 5: Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được dùng trong đoạn (4).

- Đoạn (4) đã sử dụng biện pháp tu từ: biện pháp liệt kê: đồng ruộng, mồ hôi ba, niềm vui mùa lúa trúng, nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ.

- Tác dụng:

+ Giúp tăng sức gợi hình, gợi cảm cho văn bản; tạo nên giọng điệu tha thiết, nhớ thương.

+ Nhấn mạnh ý mà tác giả muốn biểu đạt: những kỉ niệm thân thương gắn với mùi rơm rạ, mùi hương rơm rạ bao hàm tất cả những mùi hương khác của quê hương, gia đình; nhấn mạnh sự khắc sâu, không phai mờ của mùi rơm rạ trong tâm trí tác giả.

Câu 6:

- Tình cảm của tác giả: Là nỗi nhớ tha thiết, cháy bỏng về gia đình, về quê hương, về cái mùi rơm rạ quê nhà. Là tình yêu, gắn bó, trân trọng quê hương từ những điều bình dị nhất.

- Nhận xét: Đó là tình cảm chân thành xuất phát từ sâu thẳm tâm hồn của tác giả. Là tình cảm thiêng liêng cao đẹp, thấm đậm giá trị nhân văn, cần được trân trọng, ngợi ca.

Câu 7: Em có đồng ý với quan điểm của tác giả rằng: những ký ức “chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người” không? Vì sao?

- Học sinh bày tỏ quan điểm: đồng ý hay không đồng ý.

- Học sinh lí giải lựa chọn của bản thân. Có thể lí giải theo nhiều cách, miễn hợp lí, thuyết phục.

+ Nếu đồng tình, lí giải theo hướng: Cuộc sống hiện đại cuốn con người vào vòng xoáy hối hả, khiến con người đôi lúc lãng quên đi những ký ức tươi đẹp. Thế nhưng đó chỉ là sự tạm lắng trong tâm thức. Bởi con người và quê hương cùng những ký ức tuổi thơ luôn được gắn kết bền chặt với nhau. Tình yêu quê hương là cội nguồn sâu thẳm mà không bao giờ mất đi.

+ Nếu không đồng tình, lí giải theo hướng: Cuộc sống hiện đại nhộn nhịp, hào nhoáng dễ khiến con người quên đi những ký ức về quê hương nhỏ bé, bình dị. Đó không phải là sự tạm lắng mà là sự lãng quên, chối bỏ quê hương.

Câu 8: Theo em, kí ức tuổi thơ có ý nghĩa gì trong cuộc sống con người? Hãy trả lời từ 8 – 10 dòng.

- Học sinh khẳng định kí ức tuổi thơ có ý nghĩa sâu sắc với cuộc sống con người.

- Học sinh chỉ rõ ý nghĩa, phân tích, lí giải được các ý nghĩa ấy. (Vì sao kí ức tuổi thơ lại mang đến những ý nghĩa đó?)

+ Kí ức tuổi thơ đem tới cho cuộc sống con người sự bình yên, thư thái. Bởi ký ức tuổi thơ thường là những ký ức hồn nhiên, vô tư, trong sáng. Ký ức ấy sẽ giúp tâm hồn con người trở nên bình yên sau vòng xoáy hối hả của cuộc sống.

+ Kí ức tuổi thơ là cầu nối đưa ta trở về nguồn cội về quê hương, về gia đình. Bởi ký ức tuổi thơ thường gắn liền với nơi “chôn rau cắt rốn”, gắn liền với gia đình. Vì thế khi chúng ta nhớ về kí ức tuổi thơ nghĩa là ta đang trở về với quê hương, gia đình trở về với nguồn cội.

MÃ ĐỀ: 05

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Cơn gió mùa hạ lướt qua vừng sen trên hồ, nhuần thấm cái hương thơm của lá, như báo trước mùa về của một thức quà thanh nhã và tinh khiết. Các bạn có ngửi thấy, khi đi qua những cánh đồng xanh, mà hạt thóc nếp đầu tiên làm trĩu thân lúa còn tươi, ngửi thấy cái mùi thơm mát của bông lúa non không? Trong cái vỏ xanh kia, có một giọt sữa trắng thơm, phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ. Dưới ánh nắng, giọt sữa dần dần đông lại, bông lúa ngày càng cong xuống, nặng vì cái chất quý trong sạch của Trời.

Đợi đến lúc vừa nhất, mà chỉ riêng những người chuyên môn mới xác định được, người ta gặt mang về. Rồi đến một loạt cách chế biến, những cách thức làm truyền từ đời này sang đời khác, một sự bí mật trân trọng và khe khắt giữ gìn, cái cô gái Vòng làm ra thứ cốm dẻo và thơm ấy. Tất nhiên là nhiều nơi cũng biết cách thức làm cốm, nhưng không có đâu làm được hạt cốm dẻo, thơm và ngon được bằng ở làng Vòng, gần Hà Nội.

Tiếng cốm Vòng đã lan khắp tất cả ba kì, và đến mùa cốm, các người của Hà Nội 36 phố phường vẫn thường ngóng trông cô hàng cốm xinh xinh, áo quần gọn ghẽ, với cái dấu hiệu đặc biệt là cái đòn gánh hai đầu cong vút lên như chiếc thuyền rồng...

Cốm là thức quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ An Nam. Ai đã nghĩ đầu tiên dùng cốm để làm quà sêu tết. Không gì còn hợp hơn với sự vương vít của tơ hồng, thức quà trong sạch, trung thành như các việc lễ nghi. Hồng cốm tốt đôi... Và không bao giờ có hai màu lại hoà hợp hơn được nữa: màu xanh tươi của cốm như ngọc thạch quý, màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già. Một thứ thanh đạm, một thứ ngọt sắc, hai vị nâng đỡ nhau để hạnh phúc được lâu bền. (...)

Cốm không phải thức quà của người vội; ăn cốm phải ăn từng chút ít, thong thả và ngẫm nghĩ. Lúc bấy giờ ta mới thấy thu lại cả trong hương vị ấy, cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ: trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc. Thêm vào cái mùi hơi ngát của lá sen già, ướp lấy từng hạt cốm một còn giữ lại cái ấm áp của những ngày mùa hạ trên hồ. Chúng ta có thể nói rằng trời sinh lá sen để bao bọc cốm, cũng như trời sinh cốm nằm ủ trong lá sen. Khi các cô gái làng Vòng đỗ gánh, giở từng lớp lá sen, chúng ta thấy hiện ra từng lá cốm, sạch sẽ, và tinh khiết, không có mảy may một chút bụi nào. Hỡi các bà mua hàng! Chớ có thọc tay mân mê thức quà thần tiên ấy, hãy nhẹ nhàng mà nâng đỡ, chút chiu mà vuốt ve. Phải nên kính trọng cái lộc của Trời, cái khéo léo của người, và sự cố sức tiềm tàng và nhẫn nại của thần Lúa. Sự thưởng thức của các bà sẽ được trang nhã và đẹp đẽ hơn, và cái vui cũng sẽ tươi sáng hơn nhiều lắm.

(Một thứ quà của lúa non: cốm, Thạch Lam, in trong Hà Nội băm sáu phố phường, Nxb Đời Nay, Hà Nội, 1943)

Lựa chọn đáp án đúng:

Câu 1: Các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản trên là? (0,5 điểm)

A. Biểu cảm và thuyết minh

B. Tự sự và biểu cảm

C. Thuyết minh và nghị luận

D. Tự sự và nghị luận

Câu 2: Đối tượng chính được nói tới trong văn bản là: (0,5 điểm)

A. Lúa non

B. Cốm

C. Lá sen

D. Các cô gái làng Vòng

Câu 3: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: “là cái đòn gánh hai đầu cong vút lên như chiếc thuyền rồng”? (0,5 điểm)

A. So sánh

B. Ẩn dụ

C. Nhân hóa

D. Nói quá

Câu 4: Dòng nào sau đây nói về đặc điểm của hạt cốm? (0,5 điểm)

A. “Phảng phất hương vị ngàn hoa cỏ”

B. “Màu đỏ thắm của hồng như ngọc lựu già”

C. “Cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc”

D. “Cái chất quý trong sạch của Trời”

Câu 5: Phát biểu nào sau đây nói về trình tự các ý chính trong văn bản? (0,5 điểm)

A. Nguồn gốc của cốm – Cách làm ra cốm – Giá trị của cốm

B. Nguồn gốc của cốm – Giá trị của cốm – Cách làm ra cốm

C. Nguồn gốc của cốm – Giá trị của cốm – Cách thưởng thức cốm

D. Nguồn gốc của cốm – Đặc điểm của cốm – Cách làm ra cốm

Câu 6: Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung khái quát của văn bản (0,5 điểm)

A. Cảm nghĩ của tác giả về cốm làng Vòng

B. Quan niệm của tác giả về cách thưởng thức cốm làng Vòng

C. Những giá trị mà cốm làng Vòng mang lại cho con người

D. Kêu gọi mọi người hãy biết trân trọng cốm làng Vòng

Câu 7: Cái tôi của tác giả được thể hiện như thế nào qua văn bản? (0,5 điểm)

A. Cái tôi tinh tế, nhạy cảm

B. Cái tôi tài hoa, uyên bác

C. Cái tôi đa cảm, trữ tình

D. Cái tôi thông minh, sắc sảo

Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:

Câu 8: Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc văn bản trên? (0,5 điểm)

Câu 9: Nêu chủ đề của văn bản? (1,0 điểm)

Câu 10: Từ nội dung văn bản, bạn có suy nghĩ gì về vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)

II. LÀM VĂN (4,0 điểm)

Câu 11: Bạn hãy viết bài thuyết minh về bánh chưng (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).

GỢI Ý LỜI GIẢI

I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)

Lựa chọn đáp án đúng:

- Câu 1. A. Biểu cảm và thuyết minh

Giải thích: Văn bản cung cấp thông tin, giới thiệu về cốm (nguồn gốc, cách làm, đặc sản làng Vòng) nên có yếu tố thuyết minh. Tuy nhiên, yếu tố nổi bật hơn cả là tình cảm, sự trân trọng, ngợi ca của tác giả dành cho món quà này, thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh giàu cảm xúc. Do đó, phương thức biểu đạt chính là biểu cảm và thuyết minh.

- Câu 2. B. Cốm

Giải thích: Toàn bộ văn bản đều tập trung miêu tả, ca ngợi và bàn luận về cốm, từ nguồn gốc (lúa non) đến cách làm, giá trị và cách thưởng thức. Các đối tượng khác như lúa non, lá sen, cô gái làng Vòng chỉ là những yếu tố phụ làm nổi bật đối tượng chính là cốm.

- Câu 3. A. So sánh

Giải thích: Câu văn có cấu trúc so sánh rõ ràng, đối chiếu hình ảnh "cái đòn gánh hai đầu cong vút lên" với "chiếc thuyền rồng" thông qua từ so sánh "như”.

- Câu 4. C. “Cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc”

Giải thích: Câu văn này nằm trong đoạn cuối, miêu tả trực tiếp "chất ngọt của cốm" là "cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc", đây chính là một đặc điểm của hạt cốm khi thưởng thức.

- (A) và (D) miêu tả giọt sữa trong bông lúa non, là nguyên liệu làm ra cốm.

- (B) miêu tả quả hồng, thức quà ăn cùng cốm.

- Câu 5. C. Nguồn gốc của cốm – Giá trị của cốm – Cách thưởng thức cốm

Giải thích:

- Đoạn 1, 2: Nói về nguồn gốc của cốm (từ lúa non) và cách làm ra nó.

- Đoạn 3, 4: Nói về giá trị của cốm (thức quà đặc biệt, quà sêu tết, sự kết hợp với hồng).

- Đoạn 5: Bàn về cách thưởng thức cốm sao cho đúng điệu, tinh tế.

- Trình tự này là hợp lý và bao quát nhất các ý chính của văn bản.

- Câu 6. A. Cảm nghĩ của tác giả về cốm làng Vòng

Giải thích: Toàn bộ văn bản là dòng cảm xúc, suy ngẫm, sự trân trọng và ngợi ca của nhà văn Thạch Lam đối với món cốm. Các khía cạnh khác như cách thưởng thức, giá trị... đều nằm trong dòng cảm nghĩ chung đó.

- Câu 7. A. Cái tôi tinh tế, nhạy cảm

Giải thích: Qua văn bản, tác giả hiện lên với một tâm hồn có khả năng cảm nhận những vẻ đẹp, hương vị rất nhỏ, rất thanh tao (mùi lúa non, hương lá sen, vị ngọt thanh đạm...). Sự quan sát tỉ mỉ và những rung động sâu sắc trước một thức quà bình dị cho thấy một cái tôi tinh tế và nhạy cảm.

Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:

- Câu 8. Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc văn bản trên? (0,5 điểm)

- Gợi ý:

- Bài học về sự trân trọng những giá trị văn hóa, ẩm thực truyền thống của dân tộc.

- Bài học về cách cảm nhận và thưởng thức cuộc sống: cần sống chậm lại, biết thưởng thức vẻ đẹp từ những điều giản dị, mộc mạc xung quanh.

- Bài học về lòng biết ơn: biết ơn thiên nhiên đã ban tặng sản vật quý, biết ơn những người nông dân, những người thợ thủ công đã khéo léo, cần mẫn làm ra những sản phẩm tinh túy.

- Câu 9. Nêu chủ đề của văn bản? (1,0 điểm)

Gợi ý: Chủ đề của văn bản là ca ngợi, trân trọng Cốm - một thức quà đặc sản tinh túy, thanh khiết, mang đậm hương vị và vẻ đẹp văn hóa của đồng quê, của đất nước Việt Nam.

- Câu 10. Từ nội dung văn bản, bạn có suy nghĩ gì về vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) (1,0 điểm)

Gợi ý: Từ câu chuyện về cốm, ta thấy các giá trị văn hóa truyền thống có vai trò vô cùng quan trọng. Chúng không chỉ là những món ăn hay vật phẩm, mà còn là linh hồn, là bản sắc của một dân tộc. Các giá trị này kết tinh trong đó vẻ đẹp của thiên nhiên, sự khéo léo tài hoa của con người và chiều sâu của lịch sử. Việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống chính là cách để chúng ta kết nối với quá khứ, làm giàu đẹp thêm đời sống tinh thần trong hiện tại và khẳng định bản sắc riêng của mình trong tương lai.

II. LÀM VĂN (4,0 điểm)

Đề bài: Bạn hãy viết bài thuyết minh về bánh chưng (có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như: miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận).

Dàn ý gợi ý:

1. Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về bánh chưng: là món ăn truyền thống, không thể thiếu trong ngày Tết cổ truyền của người Việt.

- Nêu vị trí đặc biệt của bánh chưng trong văn hóa và tâm thức người Việt Nam (không chỉ là món ăn mà còn là biểu tượng văn hóa sâu sắc).

2. Thân bài:

- Luận điểm 1: Nguồn gốc và ý nghĩa sâu sắc của bánh chưng.

- Tự sự: Kể lại ngắn gọn sự tích "Bánh chưng, bánh giầy" gắn với hoàng tử Lang Liêu đời Hùng Vương thứ 6. Qua đó, thể hiện lòng hiếu thảo và sự trân trọng nghề nông.

- Thuyết minh & Nghị luận: Giải thích ý nghĩa của bánh chưng:

- Hình vuông tượng trưng cho Đất (quan niệm "trời tròn đất vuông").

- Màu xanh của lá dong tượng trưng cho cỏ cây, thiên nhiên.

- Nhân đậu xanh, thịt lợn tượng trưng cho muôn loài, sản vật do đất trời nuôi dưỡng.

- => Nghị luận: Khẳng định bánh chưng là biểu tượng của lòng biết ơn trời đất, tổ tiên và triết lí nông nghiệp lúa nước của người Việt.

- Luận điểm 2: Nguyên liệu và quy trình gói bánh công phu.

- Thuyết minh: Liệt kê các nguyên liệu chính: gạo nếp cái hoa vàng, đỗ xanh, thịt lợn ba chỉ, lá dong, lạt giang... Nêu yêu cầu lựa chọn từng nguyên liệu (gạo phải mẩy, đều hạt; đỗ phải thơm; thịt phải tươi...).

- Miêu tả:

- Miêu tả hình ảnh những hạt gạo trắng ngần, những hạt đỗ vàng ươm, miếng thịt hồng tươi được tẩm ướp đậm đà.

- Miêu tả quá trình gói bánh: bàn tay khéo léo xếp lá, đổ gạo, rải đỗ, đặt nhân rồi gói lại vuông vắn, chặt chẽ.

- Biểu cảm: Thể hiện cảm xúc về không khí gia đình quây quần gói bánh. Đó là hình ảnh ấm cúng, là khoảnh khắc sum vầy, là lúc thế hệ trước truyền lại kinh nghiệm cho thế hệ sau.

- Luận điểm 3: Cách luộc bánh và thưởng thức.

- Thuyết minh: Trình bày về công đoạn luộc bánh (thường kéo dài 10-12 tiếng), phải giữ lửa đều, tiếp nước liên tục.

- Biểu cảm & Miêu tả:

- Miêu tả hình ảnh nồi bánh chưng sôi sùng sục trên bếp lửa hồng trong đêm giao thừa se lạnh.

- Bày tỏ cảm xúc háo hức, chờ đợi, mùi thơm của lá dong, của gạo nếp lan tỏa tạo nên hương vị đặc trưng của Tết.

- Miêu tả chiếc bánh sau khi luộc xong: màu xanh rền của lá, lớp gạo dẻo thơm, nhân bánh bùi, béo ngậy.

- Thuyết minh: Cách thưởng thức: Bánh chưng thường được ăn kèm với dưa hành, củ kiệu để giảm độ ngấy và tăng hương vị.

- Luận điểm 4: Giá trị văn hóa và vị trí của bánh chưng trong đời sống hiện đại.

- Nghị luận & Biểu cảm:

- Khẳng định bánh chưng là "linh hồn" của mâm cỗ Tết, là vật phẩm thiêng liêng để dâng cúng tổ tiên.

- Nó là biểu tượng của sự sum họp, đoàn viên.

- Dù cuộc sống hiện đại, nhiều gia đình không còn tự gói bánh, nhưng giá trị biểu tượng của bánh chưng vẫn vẹn nguyên. Nó nhắc nhở con cháu về cội nguồn, về những giá trị truyền thống tốt đẹp

3. Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị bền vững của bánh chưng trong văn hóa ẩm thực và đời sống tinh thần của người Việt.

- Bày tỏ tình cảm, niềm tự hào về món ăn truyền thống và ý thức giữ gìn, phát huy nét đẹp văn hóa này.

إرسال تعليق

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.