Ngữ văn 11: ĐỂ KIỂM TRA CUỐI KÌ I - NĂM HỌC: 2025-2026 (Có đáp án)

Web Publisher User


TỔ NGỮ VĂN

ĐỀ CHÍNH THỨC

(Đề này có 02 trang)

ĐỂ KIỂM TRA CUỐI KÌ I

NĂM HỌC: 2025-2026

Môn: Ngữ văn 11

Thời gian làm bài: 90 phút

(Không kể thời gian giao đề)

Họ và tên học sinh: ……………………….; SBD: ……………; Lớp: …………; Phòng: ……….

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

(Bối cảnh đoạn trích: Bà lão đã 76 tuổi, có đứa con trai ăn chơi phá hết của cải, bỏ đi để bà lại một mình, bà lão khóc đến mù cả mắt. Bà được người cháu họ là bác đánh giậm” nuôi vì trước kia bác đã được bà lão giúp đỡ nhiều lần. Tuy nhiên nuôi được ba năm thì bác giậm không muốn nuôi nữa bởi cuộc sống của gia đình bác cũng chẳng đủ ăn. Bà lão vô cùng tủi thân khi bị vợ chồng họ hắt hủi. Cuối cùng vợ chồng bác giậm bắt bà lão lòa đi ăn xin để phụ tiền ăn.)

Đã được nửa tháng nay, sáng nào cũng thấy thằng cu lớn dắt bà ra ngồi đầu đê rồi chiều đến lại dắt về. Trong bọn những người chợ búa qua lại con đường cái quan, tạt vào đường đê, thấy một bà lão lụ khụ, hổn hển thở, ngẩng đầu chìa nón kêu van, cũng đôi khi có người vứt cho một vài đồng kẽm. Chẳng may, nếu hôm nào về tay không thì vợ bác đánh giậm - cháu bà - lại nghiến răng xỉa xói thậm tệ:

- Hôm nay chẳng ai thí cho bà đồng nào...! Bà có biết thế là bà lại ăn phần cơm của thằng cu lớn đấy không? Từ mai, bà liệu mà kêu to lên mới được... Hay tại bà ngồi dưới bóng cây mát mà ngủ thiếp đi...? Bà liệu đấy...!

Bát cơm ngô điểm quả cà thiu, bà lão lòa trước khi và vào mồm đã chan đầy như canh bằng nước mắt.

Một ngày kia, trời tháng ba nắng gay nắng gắt, bà lão lòa dưới gốc cây gạo, ngồi từ sáng đến quá trưa, bụng đã đói mềm mà chẳng thấy người khách đi đường nào vứt cho lấy một đồng trinh. Trên cành cây, thỉnh thoảng lộp độp rơi xuống đường đê một vài bông hoa gạo, mỗi khi quạ cái tha mồi về tổ cho con lại đập cánh sập sè vươn cổ kêu: quà! quà...! như gợi một mối thương cho người ngồi dưới gốc.

[...] Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.

Chợt có tiếng người dẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình, bà lão vội chìa ngay nón:

- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...

- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...

- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!

- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!

[...] Bỗng trên trời mây kéo đen nghịt tối sầm hẳn lại, rồi nổi một cơn giông. Bác đánh giậm chạy vội ra sân vơ quần áo đem vào nhà, giục thằng cu lớn mau mau chạy ra đê dắt bà về kẻo mưa to gió lớn. Nghe câu ấy, bác gái ngồi ôm con một góc giường cau mày ngẫm nghĩ: thật vậy! Ba bốn năm nay, bác ta đã nhịn như nhịn cơm sống ấy rồi, quá lắm thì không chịu được. Mặc kệ bà ấy! Để bà ấy chết quách đi cho rảnh mắt...!

Rồi hiện ra lần lượt trong trí bác những ngày trở trời trái gió, những ngày lửa hạ chang chang, ruộng khô đồng nứt, kiếm chẳng ra tiền, hai đứa bé bò nheo bò nhóc, một niêu cơm ngô chia khắp cả nhà, bụng mẹ đã chẳng được no, còn lấy đâu ra sữa nuôi con... Mà bà lão lòa kia thì, ngày kiếm được một vài xu cũng như ngày không kiếm được đồng nào, chẳng nhịn được bao giờ, cứ đến bữa là ngồi vào mâm, chia bát ra cho thằng cu xới. Không, không! Không thể thế được...! Bà lão ấy chỉ là một bà cô... mà lại là cô họ một người chồng, có lẽ nào báo hại mãi nhau...?

(Lược một đoạn: Vợ bác giậm không muốn cho chồng con đón bà lão lòa về nhà nên giả vờ đau bụng, hết đau bụng lại dọn cơm ăn, mặc dù cả hai đứa con liên tục nhắc nhở việc đón bà về nhưng cả hai vợ chồng đều không quan tâm. Họ đã bỏ bà lão lòa ngoài đê cả đêm khi trời mưa rả rích với cái bụng đói meo. Sáng hôm sau bác giậm đi ra ruộng kiếm cá như mọi hôm.)

Bác đánh giậm hôm ấy dậy rất sớm, đóng khố, cài giỏ, vác vợt ra đi... Mon men ở dưới chân đê, lội lõm bõm qua mấy vũng bùn lầy xa xa, phía dưới cây gạo - chỗ bà lão lòa vẫn ngồi - bác thấy giữa ruộng, trong một đám mạ xanh tươi tốt, một đàn quạ, con bay con liệng, kêu sào sạc rồi đậu xúm xít vào một chỗ. Bụng tưởng hẳn là một tổ rắn chi đây, bác ta vác ngay vợt tre lên mặt rồi phăm phăm chạy lại. Đàn quạ vùng bay lên rồi tản tác đi... Chao ôi! Bước vừa đến nơi thì bỗng bác ta rú lên một tiếng, trợn mắt rít răng mà ngã phục xuống cạnh một cái xác, cái xác một người đã bị quạ mổ nát nhừ, xác bà lão lòa bị gió thổi xuống ruộng đêm hôm trước.

Hình minh họa: Cảm xúc 365/YouTube

(Trích “Bà lão lòa” – Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2), tập 1, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 39 - 46)

(1) “giậm”: dụng cụ đánh bắt tôm cá bằng tre đan hình bán nguyệt, có cán cầm dùng để xua mồi vào; “người đánh giậm”: người bắt cá tôm bằng giậm.

(2) Vũ Trọng Phụng (1912-1939) ông là nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Ông là cây bút trào phúng bậc thầy, một trong những đại biểu xuất sắc của xu hướng văn học hiện thực phê phán.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1: Xác định ngôi kể của văn bản.

Câu 2: Chỉ ra nhân vật chính trong văn bản.

Câu 3: Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói được ghi lại trong đoạn trích sau:

Hai cánh tay khẳng khiu ôm lấy bụng mà nhăn nhó, cố quật lại với cái đói nó cào xé ruột gan, bà lão lòa thở hổn ha hổn hển.

Chợt có tiếng người dẫm lạo xạo trên đống lá khô, đi về phía mình, bà lão vội chìa ngay nón:

- Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...! Cứu cho thân tôi lấy một miếng cơm...

- Tôi đây...! Phải ai đâu mà lạy với lục...? Bà được đồng nào chưa thì đưa đây cho tôi...

- Đã được đồng nào đâu...? Chẳng thấy ai đi qua đây cả... Mẹ nó có dắt tôi về thì dắt, tôi đói lắm rồi...!

- Bà đói à? Bà đói thì dễ tôi no à? Bà hãy ngồi đấy xem sao, buổi chợ chiều nay, rồi họ về qua đây nhiều... chốc nữa, tôi sẽ bảo thằng cu nó ra nó dắt...!

Câu 4: Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho nhân vật bà lão lòa trong văn bản.

Câu 5: Anh/chị hãy nêu điểm tương đồng về ý nghĩa thông qua cách kết thúc truyện “Chí Phèo” (Nam Cao) và “Bà lão lòa” (Vũ Trọng Phụng).

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1: (2,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tính cách của nhân vật bà lão lòa ở ngữ liệu Đọc hiểu.

Câu 2: (4,0 điểm)

Từ truyện ngắn “Bà lão lòa” (Vũ Trọng Phụng), anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tác hại của lối sống thực dụng trong xã hội.

-------- HẾT --------






HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ I
MÔN: NGỮ VĂN 11

Phần Câu Nội dung Điểm
I ĐỌC HIỂU 4,0
1 Xác định ngôi kể của văn bản:
- Ngôi kể: Ngôi thứ ba (Người kể chuyện giấu mình).
Hướng dẫn chấm: Học sinh trả lời đúng như đáp án đạt 0,5 điểm.
0,5
2 Chỉ ra nhân vật chính trong văn bản:
- Nhân vật chính: Bà lão lòa.
Hướng dẫn chấm: Học sinh trả lời đúng như đáp án đạt 0,5 điểm.
0,5
3 Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói được ghi lại trong đoạn trích:
- Đặc điểm ngôn ngữ nói (khẩu ngữ):
+ Sử dụng nhiều từ ngữ hô gọi, tình thái, cảm thán: "Lạy ông...", "Tôi đây...!", "Mẹ nó...", "à", "đâu", "chốc nữa".
+ Kết cấu câu lỏng lẻo, câu rút gọn, ngắt quãng đặc trưng của lời nói thường ngày: "Phải ai đâu mà lạy với lục...?", "Đã được đồng nào đâu...?".
+ Sự luân phiên lượt lời giữa bà lão và người cháu.
- Tác dụng: Tạo giọng điệu chân thực, sinh động; khắc họa rõ nét sự khốn cùng, van xin của bà lão và sự lạnh lùng, dối trá của người cháu.
Hướng dẫn chấm:
- Chỉ ra đặc điểm: 0,5 điểm.
- Nêu tác dụng: 0,5 điểm.
1,0
4 Nhận xét về tình cảm của tác giả dành cho nhân vật bà lão lòa:
- Tác giả dành cho bà lão niềm thương cảm, xót xa sâu sắc trước số phận bất hạnh, bi thảm (già yếu, mù lòa, bị hắt hủi, chết đau đớn).
- Đồng thời, qua đó gián tiếp lên án, tố cáo sự tàn nhẫn, vô cảm của xã hội đồng tiền và sự xuống cấp của đạo đức con người (thể hiện qua nhân vật vợ chồng bác đánh giậm).
Hướng dẫn chấm: Học sinh nêu được 2 ý trên (thương cảm và lên án) đạt 1,0 điểm.
1,0
5 Điểm tương đồng về ý nghĩa kết thúc truyện "Chí Phèo" và "Bà lão lòa":
- Cả hai kết thúc đều là cái chết bi thảm của người nông dân/người nghèo khổ.
- Ý nghĩa tố cáo: Phản ánh hiện thực xã hội tàn khốc, dồn đẩy con người vào đường cùng. Cái chết là sự giải thoát duy nhất nhưng cũng là lời kết tội đanh thép đối với sự vô nhân đạo của xã hội đương thời.
- Giá trị nhân đạo: Thể hiện niềm đau đáu, xót thương của các nhà văn hiện thực trước kiếp người nhỏ bé.
Hướng dẫn chấm: Học sinh rút ra được điểm tương đồng và lý giải hợp lý đạt 1,0 điểm.
1,0
II VIẾT 6,0
1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tính cách của nhân vật bà lão lòa.

a. Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn: (0,25 điểm)
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tính cách nhân vật bà lão lòa. (0,25 điểm)
c. Triển khai vấn đề: (1,0 điểm)
- Người có lòng tốt nhưng bạc mệnh: Trước kia từng giúp đỡ cháu, nay già yếu sa cơ lỡ vận.
- Cam chịu, nhẫn nhục: Chấp nhận đi ăn xin, chịu sự hắt hủi, mắng nhiếc của con cháu để được nuôi ăn.
- Giàu lòng tự trọng và nhạy cảm: Tủi thân, khóc "nước mắt chan cơm" khi bị nghiến răng xỉa xói; biết đau đớn về tinh thần trước cái đói và sự ghẻ lạnh.
- Sự khao khát sống: Cố gắng chống chọi với cái đói, cái rét (ôm bụng, kêu van) dù trong tuyệt vọng.
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. (0,25 điểm)
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc, diễn đạt mới mẻ. (0,25 điểm)
2,0
2 Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tác hại của lối sống thực dụng trong xã hội.

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài, Thân bài, Kết bài. (0,25 điểm)
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Tác hại của lối sống thực dụng. (0,5 điểm)
c. Triển khai vấn đề: (2,5 điểm)
1. Giải thích:
- Lối sống thực dụng: Là lối sống coi trọng vật chất, lợi ích cá nhân trước mắt, đặt đồng tiền lên trên các giá trị đạo đức, tình cảm.
- Biểu hiện trong TP "Bà lão lòa": Vợ chồng bác đánh giậm nuôi bà khi bà còn tiền/còn giúp được, hắt hủi bà khi bà già yếu, ăn bám -> Sự băng hoại đạo đức.
2. Phân tích, bàn luận về tác hại (trọng tâm):
- Đối với cá nhân: Làm con người trở nên vô cảm, tàn nhẫn, ích kỷ (như vợ chồng bác đánh giậm bỏ mặc bà lão chết đói, chết rét). Tâm hồn trở nên khô cằn, nghèo nàn.
- Đối với gia đình: Phá vỡ nền tảng đạo đức, tình thân (cháu hắt hủi cô, con cái không học được lòng hiếu thảo). Gia đình không còn là tổ ấm mà trở thành nơi toan tính.
- Đối với xã hội: Gây ra sự xuống cấp về đạo đức xã hội, quan hệ giữa người với người trở nên lạnh lùng, sòng phẳng, thiếu tình thương.
3. Phản đề & Mở rộng:
- Phân biệt thực dụng với thực tế (thực tế là hiểu rõ giá trị vật chất nhưng không chà đạp lên đạo đức).
- Phê phán những kẻ chạy theo đồng tiền mà đánh mất nhân tính.
4. Bài học liên hệ:
- Cần trân trọng các giá trị tinh thần, tình cảm gia đình.
- Sống có tình nghĩa, biết sẻ chia và yêu thương.
d. Chính tả, ngữ pháp: (0,25 điểm)
e. Sáng tạo: (0,5 điểm)
4,0
TỔNG ĐIỂM 10,0

Đăng nhận xét

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.