Ngữ văn 11 (Cánh diều): Phân tích Sóng - Xuân Quỳnh

Web Publisher User

SÓNG

(XUÂN QUỲNH)

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở

Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa

Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.”

Biển Diêm Điền, 29-12-1967

PHẦN I. ĐỜI THƠ XUÂN QUỲNH

1. Tiểu sử nữ sĩ Xuân Quỳnh

- Xuân Quỳnh (1942 – 1988), tên đầy đủ là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, là một nữ nhà thơ người Việt Nam. Bà nổi tiếng với nhiều bài thơ được nhiều người biết đến như Thuyền và biển, Sóng, Thơ tình cuối mùa thu, Tiếng gà trưa,...

- Tháng 2 năm 1955, Xuân Quỳnh được tuyển vào Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và được đào tạo thành diễn viên múa. Bà đã nhiều lần đi biểu diễn ở nước ngoài và dự Đại hội thanh niên sinh viên thế giới năm 1959 tại Vienna (Áo).

- Từ năm 1962 đến 1964, Xuân Quỳnh học Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ (khóa I) của Hội Nhà văn Việt Nam. Sau khi học xong, làm việc tại báo Văn nghệ, báo Phụ nữ Việt Nam. Xuân Quỳnh là hội viên từ năm 1967, ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa III. Năm 1973, Xuân Quỳnh kết hôn với nhà viết kịch, nhà thơ Lưu Quang Vũ, trước đó, Xuân Quỳnh kết hôn lần đầu tiên với một nhạc công của Đoàn Văn công nhân dân Trung ương và đã ly hôn. Từ năm 1978 đến lúc mất, Xuân Quỳnh làm biên tập viên Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

- Xuân Quỳnh mất ngày 29 tháng 8 năm 1988 trong một vụ tai nạn giao thông tại đầu cầu Phú Lương, thị xã Hải Dương (nay là thành phố), tỉnh Hải Dương, cùng với chồng Lưu Quang Vũ và con trai Lưu Quỳnh Thơ mới 13 tuổi.

2. Phong cách sáng tác

- Thơ của Xuân Quỳnh luôn giàu những cung bậc cảm xúc, những bài thơ ấy khi hạnh phúc say đắm, lúc đau khổ đến tột cùng, gần gũi và thân thuộc với thiên chức của làm vợ và làm mẹ.

- Những chủ đề thường xuyên suốt hiện trong thơ của Xuân Quỳnh thường là: tình yêu, kỷ niệm về tuổi thơ, gia đình và chủ yếu các bài thơ có tính hướng nội mang đậm phong cách cá nhân nhưng lại rất đỗi thân thuộc chứ không xa rời thực tế.

- Và thơ của Xuân Quỳnh còn là đời sống của chính tác giả trong những tháng năm đất nước còn đang tồn tại chiến tranh. Và điều đặc biệt trong thơ của bà với những thi sĩ hiện đại cùng thời đó là chính là khía cạnh nội tâm sâu sắc.

- Tâm trạng vui buồn của Xuân Quỳnh hòa chung với tâm trạng của xã hội. Thơ của bà giàu sự tinh tế và lẩn khuất phía sau đó còn là những tư tưởng, triết lý và tất cả đều được lấy từ chất liệu cuộc sống đời thường.

- Bài thơ Sóng là một trong những bài thơ thành công nhất trong sáng tác của Xuân Quỳnh. Sóng thể hiện âm thanh trong trẻo của người con gái khi yêu. Xuân Quỳnh đã bộc lộ hết cảm xúc của cô gái khi đem lòng yêu thương một chàng trai. Mong ước của Xuân Quỳnh chính là có thể hòa vào biển lớn của tình yêu.

“Vì thích thú. Làm văn học cảm thấy mình được sống thêm một cuộc đời nữa. Vì uất ức. Khi mới vào nghề bị xô đẩy, bị khinh rẻ nên tôi phải quyết sống. Mà sống tức là phải viết. Nói được niềm vui nỗi khổ của mình, tôi cảm thấy có cái sung sướng không mấy ai có! Như người khác không được yêu, mình được yêu. Như người khác chỉ biết im lặng mà mình biết nói, và nói lên được thành tiếng.”

– Xuân Quỳnh

3. Những tác phẩm tiêu biểu

- Tơ tằm – Chồi biếc, Hoa dọc chiến hào, Gió Lào cát trắng, Lời ru trên mặt đất, Cây trong phố – Chờ trăng, Sân ga chiều em đi, Tự hát, Hoa cỏ may, Thơ Xuân Quỳnh, Thơ tình Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ, Không bao giờ là cuối, Mẹ của anh, Thuyền và biển,...

4. Thành tựu văn chương

- Xuân Quỳnh được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh vì những thành tựu cho nền văn học nước nhà.

- Bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh đã được phổ thành nhạc và nhận được rất nhiều sự yêu thích từ bạn trẻ.

5. Nhận định

- Sóng là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách của Xuân Quỳnh. Qua hình tượng sóng, trên cơ sở sự tương đồng, hòa hợp giữ sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Bài thơ cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

“Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả tình yêu. Chị không quanh co không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị. Thành thật, đây là cốt lõi thơ Xuân Quỳnh.”

– Võ Văn Trực

“Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu thường để lại nhiều ấn tượng hơn cả. Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự nhiên, bài Sóng thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong giấc mơ. Dù có những gian truân cách trở, nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đến được tận cùng hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với bờ.”

– Phong Lê

PHẦN II. “SÓNG” – ÁNG THƠ ĐƯỢM TÌNH VƯỢT THỜI GIAN

I. Hoàn cảnh sáng tác

Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường.

Bài thơ “Sóng” được sáng tác năm 1967. Đó là những năm tháng dân tộc đang bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ và tay sai, là khi thanh niên trai gái ào ào ra trận, cho nên đặt bài thơ trong hoàn cảnh ấy mới thấy rõ được nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu. Sóng được viết trong một chuyến đi thực tế đến vùng biển Diêm Điền (Thái Bình). Đứng trước bờ biển rộng mênh mông, rộng lớn với những con sóng ào ạt xô vào bờ, trong lòng bà gợi lên nhiều suy tư, trăn trở và cảm xúc, từ đó là nguồn cảm hứng để bà sáng tác bài thơ này.

Trước khi “Sóng” ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”.

Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả những cảm xúc của người con gái trong tình yêu luôn tha thiết, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người để làm cho tình yêu ấy trở nên bất diệt. Từ đó, ta thấy được tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

II. KHÁT VỌNG TÌNH YÊU PHÍA SAU NHỮNG CƠN “SÓNG” TRỮ TÌNH

1. Khổ 1: Phát hiện về những đặc tính của sóng và trạng thái trong tình yêu

“Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể”

- Mở đầu bài thơ tác giả mang đến cho bạn đọc những trạng thái khác nhau của con sóng: “dữ dội - dịu êm, ồn ào - lặng lẽ” là những tính từ trái nghĩa thể hiện những thái cực đối lập của con sóng: có lúc hiền lành dịu dàng nhưng cũng có lúc vô cùng dữ dội.

- Đó cũng là những tâm trạng khác nhau của người con gái trong tình yêu, họ luôn dịu dàng, nhỏ nhẹ với tình yêu, với người yêu của mình nhưng cũng có lúc họ trở nên mạnh mẽ, cương trực trước tình yêu ấy.

- Nhà thơ đã cảm nhận được chính lòng mình hiện tại trước đại dương mênh mông với những con sóng có lúc nổi lúc lại lặng yên kia. Đã rất nhiều lần chúng ta tìm về biển xanh để tâm tư hết những nỗi niềm, suy nghĩ của bản thân, để khi đứng trước sự mênh mông, bao la đó, đợt sóng lần lượt va vào nhau dội lại mới thấy được trong nhà thơ những rung động đến thế. Biển mang khúc ca hát lên câu chuyện về con người, những dòng suy nghĩ của nhà thơ qua trái tim đa sầu đa cảm của thi sĩ.

- Điệp từ “và” cùng với hình ảnh nhân hóa của sông và sóng đã làm cho câu thơ trên nên giàu tính nhạc và có hồn hơn bao giờ hết.

- Hình ảnh dòng sông không hiểu chính mình nên tìm ra biển khơi rộng lớn tìm câu trả lời cũng chính là tâm tư của người con gái luôn trăn trở, suy tư nhiều điều và có ước muốn là khám phá được những điều lớn lao hơn trong tình yêu.

- Trái tim có lúc vui, rộn ràng nhưng lại có những ngày buồn bã, chán trường, bão tố trong lòng. Trong tình yêu không phải lúc nào cũng suôn sẻ, hạnh phúc mà sẽ có lúc hờn dỗi, trách móc, ghen tuông, muộn phiền,...và chính con sóng lúc êm đềm và dữ dội nói thay những đa dạng của cảm xúc người phụ nữ trong tình yêu. Bởi:

"Vì tình yêu muôn thuở
Có bao giờ đứng yên".

→ Hình ảnh của dòng sông, bể chúng ta có thể liên tưởng là biển và đại dương. Dù dòng chảy có thế nào, trôi về đâu thì đích cuối cùng sẽ là sông, trăm sông lại tìm đến biển lớn, đặc biệt là con sóng kia không chịu những ràng buộc, giới hạn nhỏ bé nên nó tìm ra nơi rộng lớn, bao la hơn là đại dương, biển cả. Nối liền mạch thơ ở đây chính là trái tim của người con gái trong khi yêu luôn mong muốn có một điểm tựa vững chắc để tâm hồn có thể yên bình bất kể mọi chuyện có ra sao. Xuân Quỳnh cho thấy nét đẹp hiện đại trong lối viết thơ của mình, một quan điểm táo bạo, mới mẻ về người phụ nữ hiện đại luôn mãnh liệt, chủ động, sống hết mình, vượt qua bất kỳ mọi gian khổ để có được tình yêu.

2. Khổ 2: Khát vọng của người con gái đang rạo rực với tình yêu chớm nở

“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ”

- Con sóng từ ngàn năm vẫn thế, vẫn tính chất, đặc điểm ấy không bao giờ thay đổi. Và người con gái cũng vậy khát vọng tình yêu luôn thường trực, rạo rực trong trái tim, bao nhiêu năm vẫn hướng về tình yêu, về người yêu.

- Trong vô vàn con sóng ngoài kia tình yêu chứa đựng là những khao khát được yêu thương, cảm giác trong tình yêu của đôi lứa. Thán từ “ôi” ở ngay câu đầu của đoạn thơ đã đủ để gợi lên cho ta thấy được xúc cảm dâng trào trội lên trong lòng nhà thơ. Rồi tiếp đến cặp từ “ngày xưa” – “ngày sau” tiếp tục đưa lối người đọc khám phá trạng thái đối lập để khẳng định thời gian muôn đời của con sóng từ quá khứ đến tương lai và dù có thế nào đi chăng nữa thì sóng vẫn cứ vận hành theo quy luật của biển cả. Trạng từ “vẫn thế” theo cùng để một lần nữa khẳng định chắc chắn rằng chân lý đó là không thể thay đổi.

→ Ở những dòng thơ trên nhà thơ muốn diễn tả những đặc điểm tự nhiên của con sóng chỉ để đến đây nhằm phác họa đến con sóng tâm hồn chứ không chỉ là con sóng biển, sóng lòng nữa. Trái tim khao khát được yêu nơi tác giả lúc này đang trào dâng đến đỉnh điểm, nó luôn thường trực, ngự trị nơi con tim tuổi trẻ.

3. Khổ 3, 4: Tâm trạng xốn xang, xao động, chất chứa sự rạo rực, khát khao của những người đang yêu.

“Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?”

- Hình ảnh “Muôn trùng sóng bể”: Có thể ở đây có rất nhiều sóng. Cứ trùng trùng điệp điệp. Một không gian thật bao la rộng lớn để sóng thỏa sức vẫy vùng. Và có lẽ, ở nơi mênh mông đó, sóng mới được là chính mình. Và em cũng được là chính mình. Lúc này đây, nhân vật “em” và “anh” đã xuất hiện. Không còn giấu mình trong sóng nữa. Nhìn thấy sóng, “em nghĩ về anh, em”. Sự lặp lại câu “em nghĩ về” đã càng nhấn mạnh nỗi suy tư của tác giả.

- Đứng trước sự bao la của thiên nhiên, sóng bể, tác giả không nghĩ tới bản thân, gia đình mà nghĩ ngay tới “anh”. Anh đã đi vào tâm thức. Cứ hiển hiện trong ý nghĩ của em đầu tiên như một điều tất lẽ dĩ ngẫu. Có thể hiểu, thứ tình cảm ấy đã sâu đậm đến nhường nào. Nỗi nhung nhớ ấy đã mãnh liệt, đã da diết đến ra sao. Và đến khi gặp sóng, nhìn thấy sóng dạt dào và dịu em, em thấy như lòng mình. “Em”, “anh” và “sóng” có một sợi dây liên kết. Bởi hình ảnh sóng là nỗi lòng của tác giả, là của nhân vật trữ tình em, cả người con gái đang yêu.

- Dù không bộc bạch rõ rệt nhưng độc giả vẫn cảm nhận được những điều mà “em” đang nghĩ. Đó là giữa biển lớn mênh mông kia, thì “từ nơi nào sóng lên?”. Câu hỏi tu từ không có lời đáp nhưng độc giả đều hiểu đó là sự chuyển đổi trong tâm trạng của tác giả. Một tâm trạng đang yêu nên hay nghĩ mông lung, đứt đoạn. Bao âu lo suy nghĩ về tình yêu của em và anh bỗng chuyển sang lý giải cho cội nguồn tình yêu ấy. Câu hỏi có vẻ mang tính khoa học nhưng không phải là nghiên cứu về sóng mà chính là tác giả muốn lý giải về quy luật của tình yêu.

“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

- Khổ thơ bốn bắt đầu bằng những câu hỏi về sự lý giải nguồn gốc của tình yêu: nhận ra một phần sóng bắt đầu từ gió, cũng như tác giải nhận ra tình yêu của mình bắt đầu từ những sự thoảng qua như những cơn gió. Thế nhưng những cơn gió thoảng qua ấy lại bắt đầu từ đâu? Hay những rung động ấy của em lại bắt đầu từ đâu, thì nữ sĩ lại bảo “Em cũng không biết nữa. Khi nào ta yêu nhau”.

- Độc giả có thể thấy mọi nỗ lực của tác giả để cắt nghĩa, để truy tìm cội nguồn, để lý giải cảm xúc trong tình yêu của mình đều không bất lực. Lúc này, tác giả không bảo “Sóng cũng không biết nữa” mà thay vào đó là “em”.

- Tác giả không xấu hổ khi để người khác biết rằng kiến thức về tình yêu của mình hạn hẹp. Tác giả cũng không ngại khi ai đó biết rằng, “em” không biết khi nào “ta yêu nhau”. Một sự chấp nhận thua cuộc nhưng mang tới cảm giác hạnh phúc, sự thẹn thùng trong niềm vui trọn vẹn.

- Tình yêu là thế. Nó là sự bí ẩn của thế gian mà đến cả những vị thần cũng không bao giờ lí giải nổi. Chẳng thế mà ông hoàng thơ tình Xuân Diệu đã từng phải thốt lên:

“Làm sao định nghĩa được tình yêu
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu”

3. Khổ 5, 6, 7: Những chân trời của những cảm xúc vui buồn, lắng lo, hạnh phúc và cả chân trời của sự thủy chung trong tình yêu.

- Khổ thơ thứ năm là khổ thơ có số lượng câu thơ nhiều nhất trong “Sóng”. Sáu câu thơ đứng giữa thi phẩm như một đợt sóng lòng cồn lên cao nhất từ tâm điểm của tác phẩm trong đó bốn câu thơ đầu là nỗi nhớ bờ âm ỉ, tha thiết của con sóng.

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

+ Tác giả đã sử dụng điệp ngữ “con sóng” lặp lại liên tiếp nhiều lần. Qua đó không chỉ tạo một giọng thơ sôi nổi phù hợp với mạch cảm xúc mà còn nhấn mạnh hình tượng con sóng đang cuộn chảy, trào dâng trong nỗi nhớ. Dưới ngòi bút tinh tế của nữ thi sĩ, những con sóng ấy trở nên có hồn hơn, chất chứa những suy tư, tình cảm như một con người thực sự. Đó là nỗi nhớ da diết, nỗi nhớ cồn cào về bến đỗ thân thương “bờ”.

+ Bằng biện pháp nhân hóa đặc sắc với động từ “nhớ”, người đọc dường như có thể cảm nhận được một nỗi niềm đau đáu ẩn hiện trong hình hài con sóng biển. Đặc biệt hơn nữa, Xuân Quỳnh còn sử dụng cặp từ đối lập giàu sức gọi “trên mặt nước” - “dưới lòng sâu”, “ngày” - “đêm” vừa tạo nên cấu trúc song hành, đối xứng vừa khiến cho ngôn ngữ thơ cân xứng hài hòa, nhạc điệu thơ nhịp nhàng nhưng trên hết là để nhấn mạnh nỗi “nhớ bờ” khôn nguôi của sóng.

+ Dù ở bất cứ nơi đâu, dù đang ngủ yên dưới lòng biển sâu thẳm hay vận động trên đại dương bao la thì con sóng vẫn luôn “nhớ bờ”, vẫn luôn hướng về nơi phương xa, về nơi dừng chân bình yên của mình. Nỗi nhớ ấy luôn thường trực trong hình tượng con sóng và nó dường như bao trùm lấy cả không gian mênh mông của biển cả, kéo dài miên man không dứt theo thời gian. Dù trong ngày êm ả hay đêm vắng lặng, con sóng vẫn thao thức “không ngủ được”.

+ Nữ thi sĩ tiếp tục sử dụng biện pháp nhân hóa đầy tinh tế, giàu tính biểu cảm. Nỗi “nhớ bờ” ấy phải cồn cào, da diết như thế nào mới có thể khiến con sóng “không ngủ được”? Không còn là thứ vô tri, vô giác nữa mà con sóng ấy từ lâu đã mang trong mình cả một tâm hồn, một tâm hồn biết “nhớ”, biết “không ngủ được” vì nỗi trăn trở.

→ Đọc những câu thơ này, người ta không chỉ cảm nhận được những âm điệu sôi nổi, mãnh liệt của sóng mà còn hình dung được những con sóng đang trào dâng giữa biển cả với nỗi nhớ bao trùm cả không gian, kéo dài theo thời gian.

+ Từ nỗi nhớ của sóng, Xuân Quỳnh đã bày tỏ nỗi nhớ của “em” một cách đầy tự tin, trực tiếp: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”. Nếu người phụ nữ trước khi chỉ dám bày tỏ nỗi nhớ một cách gián tiếp thì người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh đã phá vỡ rào cản mà chủ động, trực tiếp khẳng định tình yêu của mình.

+ Từ “lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà là gan, là ruột của người phụ nữ.

+ “Lòng em nhớ đến anh” là câu nói khẳng định giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết và đầy táo bạo. Điều này chứng tỏ nỗi nhớ và tình yêu của người phụ nữ phải rất cháy bỏng, tha thiết và mãnh liệt mới có thể có đủ can đảm để khẳng định được tấm lòng của mình một cách chủ động như vậy. Đây cũng chính là vẻ đẹp của tình yêu tự do, hiện đại.

+ Để rồi nỗi nhớ ấy không chỉ còn là ở cảm xúc hay ý thức mà nó đã trở thành nỗi nhớ của tiềm thức: “Cả trong mơ còn thức”. Nếu chỉ hiểu theo nhận thức của lí trí thông thường thì khi mơ là đang ngủ mà trạng thái ngủ là hoàn toàn đối lập với trạng thái thức. Cho nên “cả trong mơ còn thức” là điều rất vô lý, trái với nhận thức thông thường.

+ Tuy vậy nhưng câu thơ vẫn được ngợi ca và đón nhận. Tại sao lại như vậy? Có lẽ là bởi nó được lý giải bởi quy luật của tình yêu. Trong tình yêu, mọi thứ vô lý đều có thể trở thành hợp lý và ở đây cũng vậy. Có lẽ chỉ người đã và đang sống trong nỗi nhớ của tình yêu mới có thể cảm nhận trọn vẹn những cung bậc cảm xúc ấy.

→ Có thể nói, Xuân Quỳnh đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc mà mới mẻ về tình yêu trong tâm hồn người phụ nữ. Đây cũng là trạng thái tình cảm tiêu biểu cho những ai đã, đang và sẽ yêu. Và đằng sau nỗi nhớ “anh” tha thiết ấy là một lời khẳng định đầy mạnh mẽ cho một tình yêu sâu sắc và cao đẹp.

- Ở khổ thơ thứ sáu, ta lại bắt gặp một vẻ đẹp của người phụ nữ khi yêu: đó là lòng thủy chung, son sắt. Người phụ nữ trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ mạnh mẽ vươn ra biển lớn tìm tình yêu mới trọn vẹn hơn, đẹp đẽ hơn mà còn là một người con gái thủy chung với tình cảm của mình, tuy sẵn sàng bỏ lại mọi thứ nhưng khi tìm được bến bờ hạnh phúc lại một lòng một dạ với người mình yêu:

“Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương”

+ Cách diễn đạt thật thú vị: “Dẫu xuôi về phương Bắc/Dẫu ngược về phương Nam”: Trong cách nói quen thuộc của người Việt Nam, người ta thường chỉ nói “xuôi Nam ngược Bắc”. Thế nhưng Xuân Quỳnh lại viết “xuôi Bắc ngược Nam”. Tại sao tác giả không viết theo quy luật thông thường mà bất ngờ đảo ngược như vậy? Lúc ấy, phương Nam là tiền tuyến, miền Bắc là hậu phương mà ta thường nói xuôi về tiền tuyến, ngược về hậu phương. Điều này khẳng định rõ hơn những gian nan, vất vả, ngược xuôi cách trở éo le mà “em” phải đối diện.

+ Phải chăng, nhà thơ còn muốn khẳng định cho dù vạn vật luôn đổi thay, cuộc đời luôn điên đảo, lòng người dễ thay đen đổi trắng, dễ biến ngược thành xuôi, thì người phụ nữ vẫn luôn thủy chung son sắt trong tình yêu.

+ Nhà thơ còn sử dụng nghệ thuật điệp cấu trúc “dẫu...” nhằm khẳng định sự mạnh mẽ, táo bạo và chân thành của người phụ nữ khi yêu. Dù có phải trải qua tất cả những thay đổi thăng trầm, người phụ nữ vẫn luôn thủy chung với tình yêu và hạnh phúc với sự lựa chọn của mình.

+ Dường như Xuân Quỳnh muốn phủ nhận tất cả những khó khăn, trái ngang để yêu - một tình yêu đích thực mà người phụ nữ khao khát có được.

+ Khép lại trong lòng người đọc là hai câu thơ: “Nơi nào em cũng nghĩ/Hướng về anh - một phương”: Lời thơ đọc lên thấy tiếng lòng da diết của người phụ nữ khi yêu. Ta không nghe thấy tiếng lòng của sóng chỉ nghe thấy tiếng lòng của em.

+ Xuân Quỳnh đã khẳng định một cách chân thành, mạnh mẽ: Dù ra Bắc hay vào Nam, dù đi ngược hay về xuôi, dù lên rừng hay xuống biển, dù ở bất cứ nơi đâu, dù có đi tới chân trời góc bể, dù em có phải cách xa đến chừng nào thì em vẫn luôn nghĩ về anh, luôn hướng về anh. Và dù trời đất vũ trụ có bốn phương, tám hướng thì trái tim em chỉ có một phương duy nhất - phương anh.

+ Dấu “-” đặt giữa câu thơ, tách hai chữ “một phương” riêng thành một vế. Chính điều đó đã tạo nên điểm nhấn, sâu lắng, nồng nàn của xúc cảm thơ. Xuân Quỳnh quả thực đã rất tự tin và chân thành bày tỏ tình cảm thủy chung của mình trước anh. Đó là sự tự tin của người phụ nữ bản lĩnh dám yêu và cũng dám đi đến tận cùng để đạt tình yêu của cuộc đời.

→ Tấm lòng thủy chung trong tình yêu là vẻ đẹp gắn liền với truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đồng thời đây cũng là phẩm chất quan trọng của tình yêu đích thực, của hạnh phúc đời thường. Ca ngợi về tấm lòng thủy chung của người phụ nữ trong tình yêu đã khẳng định giá trị nhân văn cao đẹp trong thơ Xuân Quỳnh.

- Đến khổ thơ thứ bảy, để chiếm lĩnh được tình yêu vừa sôi nổi thiết tha, mãnh liệt vừa trong sáng thủy chung thì con sóng phải vượt qua đại dương mênh mông để đến với “bờ anh”.

“Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”

+ Người phụ nữ đang yêu tin vào tình yêu sẽ đến bến bờ hạnh phúc dù trải qua bao khó khăn thử thách. Đúng vậy! Một tình yêu chân chính, đích thực, một niềm tin mãnh liệt vào tình yêu sẽ giúp họ vượt qua bao sóng gió cuộc đời cập đến bến bờ tương lai của hạnh phúc.

+ Hãy nhìn vào hiện thực như trở thành quy luật, dù gió có ở thật xa nơi bãi bờ thì nó cũng sẽ tìm đến những bãi cát dài dù trải qua thật nhiều khó khăn. Tình yêu của em dù gặp biết bao trở ngại em vẫn vượt qua để đến bên anh, đến một mái ấm gia đình như Chế Lan Viên từng viết:

“Cây nối đầu cây chạy đến em
Đếm cây hoài lại mọc cây thêm
Tình anh làm cái cây sau chót
Về tới quê em mọc tận thềm”

→ Ba khổ thơ với nỗi nhớ, sự trăn trở và tấm lòng chung thủy son sắt cùng với phép lặp, nhân hóa, ẩn dụ, sử dụng cách nói ngược với những hình ảnh đối lập đã khẳng định niềm tin mãnh liệt vào tình yêu, tình yêu đẹp sẽ vượt qua mọi thử thách. Tha thiết với tình yêu, khao khát sống mãi trường tồn với tình yêu nhà thơ đã có chút khắc khoải, lo âu về sự tan chảy của thời gian, đời người cũng mong manh và hạnh phúc của trái tim yêu Xuân Quỳnh cũng vậy.

4. Khổ 8, 9: những chiều dài của nỗi nhớ, những băn khoăn trong tình yêu mà còn thể hiện những suy tư lo âu trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu

“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa”

- Đời người trăm năm ngỡ dài thăm thẳm nhưng con tàu thời gian cứ vun vút lao đi không chờ đợi chúng ta. Bằng sự chiêm nghiệm của một trái tim đầy nhạy cảm nhà thơ nhận ra vũ trụ mãi vĩnh hằng - cuộc đời con người thì hữu hạn:

“Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua”

- Lo lắng tình yêu đổ vỡ, phai nhạt, khi đứng trước sự chảy trôi của thời gian. Nhưng người phụ nữ ấy vẫn luôn tin vào tương lai của tình yêu, vào ý nghĩa đích thực của tình yêu:

“Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa”

- Niềm tin, khát khao được sống mãi với tình yêu, người con gái ấy khát khao hóa thân vĩnh hằng vào tình yêu bất tử. Người phụ nữ nhỏ bé đã muốn:

“Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ.”

- Đó là khát vọng được tan ra thành trăm con sóng lớn nhỏ hòa vào biển lớn để vỗ mãi ngàn năm khúc hát tình yêu. Khát khao bất tử hóa trong tình yêu nhưng trái tim nhà thơ không vị kỷ, tầm thường, nhỏ nhen cho riêng mình mà thật lớn lao, cao thượng.

- Nhà thơ đã hòa niềm hạnh phúc của riêng mình trong niềm hạnh phúc của cuộc đời rộng lớn, cái riêng tồn tại trong cái ta chung, bao la, rộng lớn ấy đã trở thành vĩnh cửu. Đó là một trái tim yêu rất Xuân Quỳnh:

“Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai cũng có
Vẫn ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

→ Lúc muốn tan ra thành sóng, lúc muốn trở về đúng nghĩa trái tim. Xoay trở mọi hướng, ao ước bao điều, trái tim yêu Xuân Quỳnh vẫn hướng về mục đích duy nhất: tình yêu vĩnh cửu. Ao ước tan ra thành trăm con sóng nhỏ đâu chỉ thỏa khát vọng vĩnh cửu hóa tình yêu mà còn là cháy hết mình, dâng hiến hết mình của nữ sĩ.

III. GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

1. Giá trị nghệ thuật

Xuân Quỳnh đã có những sáng tạo nghệ thuật hết sức tự nhiên và sâu sắc:

  • Lối viết tự nhiên, thoải mái và sáng tạo nên hình tượng “sóng”: Hình tượng “sóng” trong văn học không phải là một hình tượng gì mới mẻ nhưng ở đây hình tượng “sóng” lại được dùng theo một cách rất tự nhiên, như thể chỉ có “sóng” mới giúp tác giả giãi bày hết những nỗi niềm, những cảm xúc những khát khao hạnh phúc, khát khao yêu đương...
  • Quan hệ giữ “sóng” và “em”: tương đồng, hài hòa nhưng không hề trộn lẫn vào nhau.
  • Âm điệu êm đềm, nhịp nhàng, du dương, sâu lắng, dào dạt miên man của nhịp thơ...
  • Thể thơ 5 chữ nhịp ngắt đều nhau nhưng xen vào đó là những câu thơ cháy bỏng, nồng nhiệt, mãnh liệt, cách nói, viết tự nhiên, gần gũi, không khoa trương.
  • Trùng điệp từ ngữ: các từ ngữ như “dẫu” – “vẫn”... song hành cú pháp “sóng không hiểu.../sóng tìm ra...”, “sóng bắt đầu.../gió bắt đầu...”: liên tưởng về những con sóng gối lên nhau, chồng chập lên nhau --> tâm trạng nữ sĩ: rối bời, cồn cào, tha thiết...

2. Giá trị nội dung

  • Dựa vào việc quan sát, chiêm nghiệm về những con sóng trước biển cả mênh mông, Xuân Quỳnh đã phát hiện ra những cung bậc đa dạng, phức tạp của cảm xúc trong tâm hồn của người phụ nữ đang yêu.
  • Niềm khao khát về tình yêu, hạnh phúc của một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa hiện đại trong tình yêu.

IV. NHỮNG NHẬN ĐỊNH VỀ “SÓNG”

1.

“Bài này Quỳnh nó viết bợm thật. Nghĩa là đọc xong, tự nhiên mình cũng có ý nghĩ là phải viết, viết một cái gì cho ra trò một chút, cho nó phải nể.”
(Nhà thơ Vũ Cao, Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội)

2.

“Đó là cuộc hành trình khởi đầu là sự từ bỏ cái chật chội, nhỏ hẹp để tìm đến một tình yêu bao la rộng lớn, cuối cùng là khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hóa thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở.”
(GS-TS Trần Đăng Suyền)

3.

“Ở mỗi tập thơ của Xuân Quỳnh, những bài viết của tình yêu thường để lại nhiều ấn tượng hơn cả. Với giọng điệu hết sức thơ hết sức tự nhiên, bài “Sóng” thể hiện một tình yêu sâu sắc, bồi hồi, thao thức đến cả trong giấc mơ. Dù có những gian truân cách trở, nhưng tình yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đến được tận cùng hạnh phúc, như con sóng nhỏ đến với bờ”
(Nhà thơ Việt Nam hiện đại, GS Phong Lê chủ biên, Viện Văn học, Nxb KHXH, 1984)

4.

“Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một cánh chuồn chuồn bay tìm chỗ nương thân trong nắng nôi dông bão của cuộc đời … Thế giới thơ ca Xuân Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt và yên lành với những biểu hiện sống động và biến hóa khôn cùng của chúng. Ở đó trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn báo bão cứ chao đi chao về, mệt nhoài giữa biến động và yên định, bão tố và bình yên, chiến tranh và hòa bình, thác lũ và êm trôi, tình yêu và cách trở, ra đi và trở lại, chảy trôi phiêu bạt và trụ vững kiên gan, tổ ấm và dòng đời, sóng và bờ, thuyền và biển, nhà ga và con tàu, trời xanh và bom đạn, gió Lào và cát trắng, cỏ dại và nắng lửa, thủy chung và trắc trở, xuân sắc và tàn phai, ngọn lửa cô đơn và đại ngàn tối sẫm...”
(Chu Văn Sơn)

5.

“Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả tình yêu. Chị không quanh co không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị. Thành thật, đây là cốt lõi thơ Xuân Quỳnh”
(Võ Văn Trực)

6.

“Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà chị đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song, người phụ nữ này vẫn còn ấp ủ biết bao hy vọng, vẫn phơi phới một niềm tin: Cuộc đời tuy dài thế/Năm tháng vẫn đi qua/Như biển kia dẫu rộng/Mây vẫn bay về xa. Bài thơ được kết thúc ở chính cái điểm đỉnh của niềm khao khát tột độ: “Làm sao được tan ra/Thành trăm con sóng nhỏ/Giữa biển lớn tình yêu/Để ngàn năm còn vỗ” Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng; vừa mãnh liệt, sôi nổi; vừa hồn nhiên, trong sáng; vừa ý nhị, sâu xa. Sau này, khi nếm trải nhiều, giọng thơ Xuân Quỳnh không còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn mãi tồn tại trong trái tim giàu có yêu thương của chị.”
(GS Nguyễn Đăng Mạnh & PTS Trần Đăng Xuyền, Những bài văn hay, Nxb Đồng Nai, 2003, tr. 135)

7.

“Nhịp điệu trong bài Sóng thật đa dạng, mô phỏng cái đa dạng của nhịp sóng: 2/3 (Dữ dội và dịu êm - Ồn ào và lặng lẽ), 1/2/2 (Sóng không hiểu nổi mình - Sóng tìm ra tận bể), 3/1/1 (Em nghĩ về anh, em), 3/2 (Em nghĩ về biển lớn - Từ nơi nào sóng lên)... Ngoài ra, các cặp câu đối xứng xuất hiện liên tiếp, câu sau thừa tiếp câu trước, tựa như những đợt sóng xô bờ, sóng tiếp sóng dào dạt: “Dữ dội và dịu êm/Ồn ào và lặng lẽ”, “Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước”, “Dẫu xuôi về phương bắc/Dẫu ngược về phương nam”.”
(GS Nguyễn Đăng Mạnh-Cẩm nang ôn luyện môn văn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, tr.237.)

8.

“Sóng là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách của Xuân Quỳnh. Qua hình tượng sóng, trên cơ sở sự tương đồng, hòa hợp giữ sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Bài thơ cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.”
(SGK Ngữ văn 12 - Chương trình Chuẩn)

9.

“Xuân Quỳnh – một cô gái mồ côi nghèo khổ: lớn lên giữa một thời kì đất nước phải đương đầu với vô vàn khó khăn về kinh tế, về chiến tranh... Nhưng Xuân Quỳnh chẳng khác nào một cây xương rồng kiên cường và kì diệu trên sa mạc, đã vắt kiệt sức mình để nở những bông hoa quý cho cuộc đời.”
– Nguyễn Thu Phương (Lớp Cl63, DHSPHN)

10.

“Tôi tin rằng, không phải 30 năm, mà hi vọng rằng các thế hệ sau vẫn tiếp tục tìm thấy ở trong những tác phẩm của Xuân Quỳnh tình yêu cuộc sống, yêu thêm con người, yêu thêm đất nước để làm cho cuộc sống đẹp hơn.”
– Nhà văn Ngô Thảo nghẹn ngào cho biết.

11.

“Đọc thơ xuân Quỳnh, người ta không có cảm giác như tác giả cố ý làm thơ, mà thơ chị tự nhiên, nhẹ nhàng, là tiếng nói chân thật từ sâu trong tâm hồn chứ không cố gắng gượng ép bản thân phải sáng tác về những triết lý khô khan. vì vậy, giọng thơ của chị thủ thỉ tâm tình, dạt dào những đợt sóng tình cảm, lúc thì nhẹ nhàng vỗ về, lúc lại cuồn cuộn dâng trào”
– Nhà phê bình văn học Lưu Khánh Thơ (em chồng nhà thơ Xuân Quỳnh).

12.

“Không còn phân biệt được sóng tạo nên Xuân Quỳnh, hay Xuân Quỳnh đã tạo nên sóng. Chỉ biết rằng chị sinh ra là để dành cho thơ. Dù đầu đời, vốn học vấn còn chưa cao, nhưng hồn thơ ở người con gái đất La Khê – Hà Đông ấy đã luôn dồi dào và dạt dào sức sống”
– T.S Chu Văn Sơn.

13.

“Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật, rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả trong tình yêu. Chị không quanh co, không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị. Thành thật, đây là cốt lõi thơ trong Xuân Quỳnh”
– Võ Văn Trực

14.

Sóng là một bài thơ tình yêu rất tiêu biểu cho tư tưởng và phong cách thơ Xuân Quỳnh ở giai đoạn đầu. Một bài thơ vừa xinh xắn, duyên dáng; vừa mãnh liệt, sôi nổi; vừa hồn nhiên, trong sáng; vừa ý nhị, sâu xa. Sau này, khi nếm trải nhiều, giọng thơ Xuân Quỳnh không còn phơi phới bốc men say nữa, nhưng cái khát vọng tình yêu vẫn mãi tồn tại trong trái tim giàu có yêu thương của chị.”
– (GS Nguyễn Đăng Mạnh & PTS Trần Đăng Xuyền, Những bài văn hay, Nxb Đồng Nai, 2003, tr. 135)

إرسال تعليق

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.