Nội dung ôn tập kiểm tra thường xuyên Ngữ Văn 11
- Lần 1
I – Lý thuyết cần nắm
1. Thơ và truyện
thơ
Khái
niệm: Truyện
thơ dân gian mang các đặc điểm của văn học dân gian: sáng tác tập thể; phương
thức lưu truyền chủ yếu bằng con đường truyền miệng; mang tính nguyên hợp.
Đặc
trưng
· Truyện thơ dân gian có sự
kết hợp giữa tự sự (yếu tố truyện) và trữ tình (yếu tố thơ).
· Cốt truyện thường gồm ba phần: Gặp gỡ - Thử thách (hoặc
Tai biến) - Đoàn tụ. Tùy từng kiểu truyện mà nội dung ba phần của truyện có
sự thay đổi.
· Nhân vật: thường được phân theo loại (tốt - xấu,
thiện - ác), được miêu tả qua những biểu hiện bên ngoài (diện mạo, hành động, lời
nói) và qua tâm trạng.
· Ngôn ngữ: đậm chất dân ca, giàu cảm
xúc, giàu hình ảnh và các biện pháp tu từ.
2. Truyện thơ Nôm
Khái
niệm: là loại
hình tác phẩm tự sự độc đáo của văn học trung đại Việt Nam, kết hợp phương thức
tự sự và trữ tình, được viết bằng chữ Nôm, chủ yếu sử dụng thể thơ lục bát hoặc
song thất lục bát.
Đặc
trưng:
+ Đặc
trưng nổi bật: sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình
+ Truyện
thơ Nôm vừa phản ánh cuộc sống qua một cốt truyện với hệ thống nhân vật, sự kiện
vừa bộc lộ thái độ, cảm xúc, tâm trạng của nhân vật, của tác giả.
+ Đề
tài, chủ đề: rất rộng mở, từ tôn giáo, lịch sử, xã hội đến cuộc sống đời
thường; đặt ra nhiều vấn đề bức thiết của thời đại.
+ Trình
tự kể: Theo thời gian với nhiều yếu tố ngẫu
nhiên, kì ảo và thường được tổ chức theo mô hình: Gặp gỡ – Chia lìa – Đoàn tụ.
+ Nhân
vật khá phong phú, đa dạng về thành phần: vua chúa, quay lại, công chúa, tiểu
thư, người hầu, người lao động,… vẫn mang tính loại hình, được dựng lên nhằm
khái quát các đặc điểm cố định của một số tầng lớp, loại người trong xã hội hoặc
một loại phẩm chất nào đó.
II – Kĩ năng đọc
1.
Nhận biết
a.
Yếu tố tự sự
Khái niệm: phần kể chuyện, sự việc, cốt truyện.
Dấu hiệu nhận biết: nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, diễn biến.
Ví dụ: “Nàng bị cha mẹ ép duyên, phải lấy người không yêu.”
b.
Yếu tố trữ tình
Khái niệm: phần bộc lộ tình cảm, tâm trạng, suy nghĩ.
Dấu hiệu: lời than thở, nhớ thương, nỗi buồn, khát vọng.
Ví dụ: “Nỗi lòng chua xót, nhớ nhung khôn nguôi.”
c.
Đề tài
Tình yêu, hôn nhân.
Số phận người phụ nữ.
Khát vọng tự do, công lí, hạnh phúc.
Phê phán lễ giáo phong kiến, bất công xã hội.
Tình yêu quê hương, đất nước, khát vọng hòa bình.
d.
Thể thơ
Chủ yếu: lục bát.
Ngoài ra: song thất lục bát.
e.
Từ ngữ, hình ảnh
Đặc điểm: gần gũi, bình dị, dân dã.
Có yếu tố ca dao, tục ngữ, hình ảnh ước lệ, so sánh, ẩn dụ.
2.
Thông hiểu
a.
Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Định nghĩa: sự lặp lại một cấu trúc ngữ pháp hoặc cụm từ.
Tác dụng:
- Nhấn mạnh cảm xúc, ý nghĩa.
- Tạo sự ngân nga, nhịp điệu, dồn dập...
Ví dụ: “Chúng ta sẽ sống, sẽ chiến đấu, sẽ
thắng lợi!” → khắc sâu nỗi niềm.
b.
Tính cách, tâm lí nhân vật
Tính cách:
- Hiền lành, thủy chung, tình nghĩa.
- Can đảm, dám yêu, dám đấu tranh.
- Hoặc cam chịu, bất hạnh trước số phận.
Tâm lí:
- Vui buồn, đau khổ, nhớ thương, hy vọng…
- Thể hiện qua lời nói, hành động, thái độ, suy nghĩ.
3.
Vận dụng
a.
Liên hệ với đời sống hiện nay
Giữ giá trị: tình yêu tự do, sự chung thủy, khát vọng sống hạnh
phúc.
Phê phán: ép duyên, bất công, định kiến → vẫn còn trong xã hội
hiện đại.
Bài học: trân trọng tình cảm chân thành, đề cao nhân phẩm, quyền
tự do lựa chọn.
b.
Cảm nhận nhân vật (đoạn văn 5–7 câu)
Mở đoạn: Giới thiệu nhân vật.
Thân đoạn:
Phẩm chất nổi bật (hiền lành, thủy chung, mạnh mẽ…).
Nỗi khổ/nỗi niềm (chịu cảnh éo le, bất hạnh…).
Nghệ thuật khắc họa (ngôn ngữ dân gian, hình ảnh gợi cảm).
Kết đoạn: Cảm nghĩ cá nhân (thương cảm, ngưỡng mộ, rút ra bài học).
III – Bài tập minh họa
ĐỀ 1
Đọc đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu từ Câu 1 đến Câu 4:
Xin bạn bình tâm
Tôi chẳng bao giờ là nhà thơ tên tuổi cả
Danh hiệu đó xin nhường cho người khác
Tôi chỉ mong mình tự do
Để được là mình
Viết điều mình mong ước
Giữa cái thời sống là đeo đuổi
Danh hiệu, bạc tiền, ghế cao, nhà rộng
Tôi chọn tự do
Thi sĩ
Tự do trước hết là chính mình
Không chiều lụy mình
Ngóng cổ nghe lời khen ngợi
Với tôi
Sự ân thưởng một câu nói vui với bạn bè
Chiếc lá xanh bên đường
Chân mây chiều rạng rỡ
Tự do là tất cả
Những ràng buộc trong sạch
Giữa con người và con người
Con người cùng ngoại vật
Không ngã giá
Thật bình dị
Tự do làm hồn ta lớn lên
Trong chiều kích vũ trụ
(Tự do - Nguyễn Khoa Điềm, Tạp chí Sông Hương, số 292,
tháng 6/2013)
Câu 1. Văn bản trên được viết bằng thể thơ
gì? (2 điểm)
Câu 2. Chỉ ra và phân tích tác dụng nghệ
thuật của biện pháp tu từ nổi bật mà tác giả sử dụng trong văn bản (5 điểm)
Câu 3. Theo anh/ chị, hiện nay, dịch bệnh
COVID-19 toàn cầu rất nguy hiểm, thì “Những ràng buộc trong sạch-Giữa con người
và con người”cần thiết là gì? (nêu ít nhất 3 ràng buộc) (2 điểm)
ĐÁP ÁN
Câu 1:
Thể thơ tự do.
Câu 2:
- Biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong đoạn trích là biện pháp điệp
từ.
- Điệp từ “tự do” được lặp lại bốn lần ở những vị trí quan trọng có tác
dụng nói lên quan điểm sống của tác giả. Người nghệ sĩ chọn tự do để được sống
là mình giữa một xã hội khi danh vọng, tiền bạc, ghế cao, nhà rộng là mục đích
cuộc đời của vô số người. Con người chọn tự do để được sống là mình, tự do với
những ràng buộc trong sạch, thấm đượm chất người, để tâm hồn lớn lên và hoàn
thiện từng ngày.
Câu 3:
Tự do theo quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm là không bị ràng buộc bởi danh
vọng, địa vị, vật chất, là được sống với những tình cảm chân thật, những rung động
trong trái tim mình. Đó là rung động của một trái tim thi sĩ nhạy cảm trước con
người và cuộc đời, trước cái đẹp. Tự do là được sống là chính mình.
ĐỀ 2
Đọc
văn bản sau:
KHUN LÚA – NÁNG ỦA
(CHÀNG LÚA – NÀNG ỦA)
(Truyện thơ dân tộc Thái)
(Trích)
Nàng rời chàng buồn đau theo mẹ
Đường về quê vắng vẻ quạnh buồn
Vời trông nào thấy người thương
240-Trời âm thầm tỏa màn sương mịt
mùng
Vào cánh rừng trông chừng xa khuất
Nàng như cuồng ngã vật nằm queo
Bà Nàng cuống sợ nhào theo
Ôm con nhớn nhác giữa đèo nhờ ai ?
245-Nhờ chim Én cánh dài tìm Lú
Kể ngọn ngành, Chàng sợ đi ngay
Đây rồi Chàng gọi, Chàng lay
-Hỡi ôi, Vía Ủa có hay chăng về
Anh đây mà, dậy đi Em hỡi
250-Ngượi vợ yêu anh đợi anh mong
“Hà hơi” Chàng bế Chàng bồng
Giật mình choàng tỉnh Nàng bừng cơn
mê
-Anh yêu quí , chết đi cho khuất
Sống chia lìa, lay lắt anh ơi !
255-Van Nàng, Mẹ mới nên lời :
-Sợ Cha bắt “chém” cả đôi chẳng nề !
Khun Lú mới vỗ về Nàng Ủa :
Gắng hãy về chớ quá buồn đau
Mặc cho kẻ lượn bên rào
260-Có trời chứng giám ta nào phụ
nhau !
Nàng về những âu sầu buồn bã
Nước mắt thì lã chã kêu gào
Người Cha sôi giận tuôn trào
- Hễ mày còn bướng thì tao chặt đầu!
265 - Vừa lúc Tạo thăm Dâu đã đến
Mẹ mắng con, im ỉm trong buồng
Nàng Ủa xinh đẹp ngậm buồn
Khóc thương Chàng Lú chẳng còn thiết
chi.
(Bản
diễn Nôm “Khun Lú – Náng Ủa” của Nguyễn Khôi dài 452 câu thơ đã được Nhà xuất bản
Văn Hóa Dân Tộc in và phát hành 1100 cuốn, tại Hà Nội tháng 9 - 1997)
Chú
thích:
(Tóm
tắt tác phẩm: Tích truyện cổ Chàng Lú – nàng Ủa có ở các dân tộc Kháng
(Xá), Khơ Mú, Thái,... Chàng Lú và nàng Ủa yêu nhau tha thiết từ nhỏ. Lớn lên, Ủa
bị cha mẹ ép gả cho một tù trưởng có thế lực. Cả hai cùng tự vẫn, kiện lên đến
Trời. Nhưng chính Trời lại là người chủ mưu trong mọi chuyện. Họ bị đày thành
hai ngôi sao (sao Khun Lú và sao Nàng Ủa), mỗi ngôi sao đứng một góc trời, mãi
mãi trông đợi nhau mà không được gần nhau.
Tích khác: Câu chuyện duyên trời, tình đất thiếu đạo lý, chia lìa đôi lứa
vì ép duyên, nên họ rủ nhau quyên sinh (chết) lên Mường Trời, mong được xum họp;
nào ngờ Then (Trời) háo sắc lại tranh Vợ lấy làm tỳ thiếp, nạt Chồng làm oan hồn
lẩn khuất trong không gian; chưa thôi, Then (Trời) lại bắt họ trở thành 2 ngôi
sao Khun Lú – Náng Ủa (Sao Hôm- Sao Mai) chỉ cho nhìn nhau mà không được gặp.
Đoạn trích: Lú - Ủa không thể đến được với nhau và tâm trạng của nàng Ủa
đang theo mẹ về nhà)
Lựa
chọn đáp án đúng:
Câu
1. Đặc
điểm của truyện thơ trong văn bản trên là:
A.
Có sự việc, cốt truyện, được kể bằng văn vần
B.
Có sự việc, cốt truyện, nhân vật và được kể bằng văn vần
C.
Có sự việc, cốt truyện và được kể bằng ngôi thứ ba
D.
Có sự việc, cốt truyện và có lời đối thoại
Câu
2. Tâm
trạng của cô gái được thể hiện trong đoạn truyện thơ trên là:
A.
Buồn đau khổ sở, âu sầu, nước mắt lã chã rơi khi không thể ở bên cạnh người
mình yêu
B.
Nhẹ nhõm như trút được gánh nặng lấy chàng trai nghèo khó
C.
Suy nghĩ về tương lai của chính mình
D.
Gào khóc thảm thiết, mong muốn ở bên người mình yêu
Câu
3. Đoạn
thoại sau thể hiện nội dung gì:
Giật
mình choàng tỉnh Nàng bừng cơn mê
-
Anh yêu quí, chết đi cho khuất
Sống
chia lìa, lay lắt anh ơi!
A.
Nàng Ủa mong chàng Lú quên mình đi
B.
Nàng Ủa quyết định tìm tới cái chết để bảo vệ tình yêu của hai người
C.
Nàng Ủa gửi lời tới chàng Lú thà rằng mình chết đi còn phải chịu cảnh sống chia
lìa, lay lắt
D.
Nàng Ủa không còn cách nào khác ngoài việc tìm đến cái chết để chứng minh tình
yêu
Câu
4. Người
cha thể hiện sự ngăn cấm quyết liệt cuộc hôn nhân của Nàng Ủa Chàng Lú như thế
nào?
A.
Người cha quyết từ mặt con
B.
Người cha dọa sẽ chặt đầu nếu không nghe lời
C.
Người cha sẽ bỏ nhà ra đi
D.
Người cha sẽ giết chàng Lú
Câu
5. Tâm trạng
của chàng trai thể hiện qua câu thơ sau là gì?
-
Hỡi ôi, Vía Ủa có hay chăng về
Anh
đây mà, dậy đi Em hỡi
250
- Ngượi vợ yêu anh đợi anh mong
“Hà
hơi” Chàng bế Chàng bồng
A.
Thất vọng vì sự dại dột của nàng Ủa
B.
Lo lắng sợ rằng nàng Ủa không bao giờ tỉnh lại
C.
Hoảng loạn, lo sợ vì nghĩ mình đã khiến nàng Ủa bất tỉnh
D.
Xót xa, lo lắng, đầy yêu thương gọi nàng Ủa tỉnh dậy
Câu
6. Những
hành động trong đoạn thơ cho thấy được tình cảm của chàng Lú dành cho nàng Ủa
là:
A. Sợ
đi tìm ngay, chàng gọi, chàng lay, vỗ về nàng, khuyên nhủ nàng chớ quá buồn đau
B. Sợ
đi tìm ngay, vỗ về nàng, khuyên nhủ nàng và cùng nàng về xin phép gia đình một
lần nữa
C. Vỗ
về nàng, chăm sóc nàng tận tình khi nàng bị ngất đi
D. Vỗ
về, khuyên nhủ và an ủi nàng, hẹn gặp lại nàng duyên ở kiếp sau
Câu
7. Theo
kết cấu của truyện thơ dân gian, đoạn trích trên nằm ở phần nào?
A. Gặp
gỡ, yêu nhau và kết duyên
B. Bị
gia đình ngăn cấm, đôi lứa chia lìa
C.
Trải qua nhiều khó khăn, trắc trở
D.
Đoàn tụ, sum vầy
Trả
lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu
8. Cảm
nhận của em về tâm trạng của nàng Ủa qua đoạn thơ
Nàng
rời chàng buồn đau theo mẹ
Đường
về quê vắng vẻ quạnh buồn
Vời
trông nào thấy người thương
…..
Nàng
như cuồng ngã vật nằm queo
….
Nàng
về những âu sầu buồn bã
Nước
mắt thì lã chã kêu gào
Người
Cha sôi giận tuôn trào
-
Hễ mày còn bướng thì tao chặt đầu!
265
- Vừa lúc Tạo thăm Dâu đã đến
Mẹ
mắng con, im ỉm trong buồng
Nàng
Ủa xinh đẹp ngậm buồn
Khóc
thương Chàng Lú chẳng còn thiết chi.
Câu
9. Mặc
dù cũng đau đớn buồn khổ như nàng Ủa nhưng chàng Lú vẫn khuyên nàng Ủa trở về
và đừng quá buồn đau. Theo em, vì sao lại như vậy?
Câu
10. Bằng đoạn
văn khoảng 10 câu, em hãy phân tích và cảm nhận tình cảm của chàng Lú và nàng Ủa
trong đoạn trích trên.
II.
VIẾT (4.0 điểm)
Viết
bài văn khoảng 2/3 trang giấy từ nội dung đoạn trích trên, em hãy bàn luận về:
Ý nghĩa của một tình yêu son sắt, thủy chung đối với mỗi người
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội
dung |
Điểm |
|
I |
ĐỌC
HIỂU |
6.0 |
|
|
1 |
B |
0.5 |
|
|
2 |
A |
0.5 |
|
|
3 |
C |
0.5 |
|
|
4 |
B |
0.5 |
|
|
5 |
D |
0.5 |
|
|
6 |
A |
0.5 |
|
|
7 |
B |
0.5 |
|
|
8 |
HS
trình bày được -
Tâm trạng buồn khổ, đau đớn của cô gái khi không thể ở bên người mình yêu -
Liệt kê một
số biểu hiện: Đường
về quê vắng vẻ quạnh buồn Vời
trông nào thấy người thương Nàng
về những âu sầu buồn bã Nước
mắt thì lã chã kêu gào Nàng
Ủa xinh đẹp ngậm buồn Khóc
thương Chàng Lú chẳng còn thiết chi. |
0.5 |
|
|
9 |
HS
trình bày các lí do tuy nhiên có thể nhắc đến lí do: Chàng Lú không muốn làm
khó người mình yêu, khuyên nàng về để tránh cho cha nàng tức giận, dù có thể
nào thì vẫn luôn yêu và hết lòng thủy chung với nàng Ủa |
1.0 |
|
|
10 |
HS
nêu được cảm nhận về tình cảm son sắt, bền chặt của Nàng Ủa – Chàng Lú +
Đau đớn, sầu khổ, khóc nước mắt lã chã khi chẳng thể cạnh người mình yêu +
Chàng Lú đau đớn, có những cử chi quan tâm, chăm sóc nàng Ủa, khuyên nhủ
nàng, không để nàng khó xử +
Khẳng định tình yêu đôi lứa có trời đất chứng giám +… |
1.0 |
|
|
II |
VIẾT |
4.0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài
văn nghị luận bàn về một vấn đề được rút ra từ tác phẩm văn học |
0.25 |
||
|
b.
Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của một tình yêu son sắt,
thủy chung đối với mỗi người |
0.5 |
||
|
c.
Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HS
có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được về tác phẩm, tiến
hành phân tích giá trị về nghệ thuật và giá trị về nội dung Sau
đây là một hướng gợi ý: - Giới
thiệu chung về tác phẩm -
Chỉ ra nội dung chính của đoạn trích và chi tiết thể hiện được vấn đề được
bàn luận: Tình
yêu son sắt thủy chung của nàng Ủa – chàng Lú +
Bàn luận về vấn đề: ·
Định nghĩa: Chung thủy nghĩa là sự son sắc
một lòng trong mọi hoàn cảnh, dù gặp nhiều khó khăn, thử thách hay đựoc sống
hạnh phúc ta vẫn không thay lòng đổi dạ. ·
Giá trị của lòng thủy chung, son sắt với mỗi
người (biểu hiện – chứng minh): Nó chính là chất keo gắn dính con
người lại với nhau. Như trong mối quan hệ vợ chồng lòng chung thủy sẽ giúp
gia đình bạn hạnh phúc. Trong tình bạn nếu có lòng thủy chung thì chắc hẳn
tình bạn sẽ được kéo dài và bền vững hơn bao giờ hết. Con người muốn
có muốn quan hệ lâu bền thì phải dùng trái tim để đối đáp với nhau. Lòng
chung thủy chính là một thước đo của phẩm chất. Một con người có lòng chung
thủy sẽ được mọi người xung quanh yêu mến và kính trọng. ·
Liên hệ bản thân |
2.5 |
||
|
d.
Chính tả, ngữ pháp Đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0.25 |
||
|
e.
Sáng tạo:
Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. |
0.5 |
||
|
Tổng
điểm |
10.0 |
||
ĐỀ 3
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
PHẠM CÔNG – CÚC
HOA
(Truyện thơ Nôm
khuyết danh)
(Trích)
(165) Phạm Công
thưa với mẹ già:
“Con đi kiếm củi
phương xa phen này
Cố làm lấy một
tuần chay
Cho cha siêu độ
lên mây chầu trời
Dù phải kiếm củi
suốt đời
(170) Con đây
cũng chẳng sợ ai chê cười”
Mẹ rằng: “Đừng
thế con ơi
Kiếm củi thì lại
suốt đời cháo rau”
Phạm Công nước
mắt tuôn sầu:
“Làm trai là phải
dãi dầu xông pha
(175) Chứ ai
sinh đẻ con ra
Bây giờ lụy đến
mẹ già hổ ngươi
Nuôi con ngần ấy
năm trời
Mẹ cha phải chịu
một đời long đong
Công cha nghĩa
mẹ ghi lòng
(180) Làm sao
trả đặng ơn cùng tổ tiên”
Cơm nắm chỉ có
mấy viên
Lưng đeo bầu nước
tìm miền làm ăn
Đói lòng áo
rách che thân
Đưa tay dắt mẹ
dời chân lên đường.
(185) Bốn ngày
rong ruổi dặm trường
Giữa trưa nắng
gắt định dừng gốc đa
Mẹ con gặp một
cụ già
Phơ phơ đầu bạc
nước da đồi mồi
Phạm Công trông
thấy ngùi ngùi:
(190) “Xin ông
thư thả ta ngồi nghỉ ngơi”
Nghe thôi ông cụ
mừng vui:
“Ba ngày chịu
đói không người đoái thương
May thay có bậu
qua đường
Hãy xin bớt miệng
sẻ nhường cho ta
(195) Phạm Công
nghe nói xót xa
Sẵn lưng cơm nắm
mở ra tức thì
Miệng cười:
“Ông hãy ăn đi
Giữa trưa ông
có việc gì ra đây”
Cụ già thong thả
giãi bày:
(200) “Hiếm hoi
sinh được mụn trai đầu lòng
Thỏa niềm rày ước
mai mong
Tìm thầy cho học,
theo vòng nghĩa nhân
Theo thầy vừa
được ba xuân
Về nhà cưới vợ
thành thân vuông tròn
(205) Gia tài
phá sạch chẳng còn
Hôm mai khốn đốn
vì con vung tiền
Những tin con
thảo dâu hiền
Ai ngờ hết của
chúng liền đuổi đi
Dầu con sỉ nhục
ê chề
(210) Cực lòng
lão phải tính bề tha phương”
Phạm Công nước
mắt rưng rưng:
“Công cha nghĩa
mẹ như rừng như non
Thấy người con
tưởng thân con
Chuyện người thảm
thiết héo hon lòng này
(215) Thôi còn
ba nắm cơm đây
Xin ông cầm lấy
đường dài dùng qua
Ví dù con có lỡ
ra
Con xin nơi
khác mẹ già cũng no
Cụ già nghe nói
nhỏ to:
(220) “Ơn chàng
tốt bụng mà cho như vậy
Lòng chàng nhân
hậu khôn tày
Cho nên lão lấy
cơm này một viên”
Dứt lời cơm vẫn
còn nguyên
Lão ông thôi đã
biến liền vời xa
(225) Chẳng ngờ
là Phật Di Đà
Thoắt về tâu với
vua cha Ngọc hoàng
Cùng quan văn
võ hai hàng:
“Chẳng ai ân
nghĩa bằng chàng Phạm Công”
Tiếng đồn đã đến
cửu trùng
(230) Lại còn
vang tới thủy cung động đình.
Ngọc hoàng muốn
thấu sự tình
Truyền đòi tiên
nữ đăng trình viễn phương
Tiên nữ vâng lệnh
lên đường
Xuống xem lòng
dạ cõi dương thế nào
(Cổ văn Việt Nam, Internet: wordpress.com)
Chú thích:
(Tóm
tắt tác phẩm: Phạm Công là chàng trai con nhà nghèo, phải đi làm công để
nuôi bố mẹ. Cha chết, Phạm Công phải đi ăn mày để tiếp tục phụng dưỡng mẹ đến
khi mẹ chết. Là người hiếu học, Phạm Công xin thụ giáo Quỷ cốc tiên sinh. Ở
đây, Phạm Công được Cúc Hoa là bạn đồng môn, cũng là con gái của tri phủ, yêu
thương. Hai người cưới nhau, khi Cúc Hoa có thai thì Phạm Công lên kinh thành ứng
thí. Phạm Công đã gặp nhiều gian truân khổ ải, bị quốc vương các nước khác ép gả
công chúa nhưng Phạm Công đều từ chối. Nhưng nhờ công chúa nước Triệu nhân hậu,
Phạm Công được trở về quê hương làm nguyên soái, đoàn tụ cùng Cúc Hoa, họ có
hai con là Nghi Xuân (con gái) và Tấn Lực (con trai). Cúc Hoa lại không may qua
đời ở tuổi 30. Phạm Công tái giá với Tào Thị và phải lên Cao Bằng làm trấn thủ.
Tào Thị ở nhà ngoại tình, hành hạ, ngược đãi Nghi Xuân và Tấn Lực. Cao điểm, thị
cùng người tình bàn mưu giết hại hai con chồng, khiến hai đứa phải trốn khỏi
nhà đi ăn xin.
Trong một đêm, Cúc Hoa từ cõi âm ti
hiện về gặp hai con và gửi thư tin cho Phạm Công biết. Sau ba năm trấn thủ, Phạm
Công trở về đuổi Tào Thị đi. Tào Thị sau đó bị sét đánh chết. Được công chúa
Xuân Dung nước Trịnh, Tề Thiên Đại Thánh và Diêm Vương giúp đỡ, Phạm Công xuống
được âm ti và tìm được vợ. Cúc Hoa được tái sinh, trở lại dương thế, “vu quy” với
Phạm Công. Phạm Công cũng được vua Trịnh gả công chúa Xuân Dung và nhường ngôi
vua cho.
Đoạn trích: Nằm ở phần đầu
tác phẩm
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích truyện thơ trên nói
về sự việc gì?
A.
Phạm Công quyết lên núi kiếm củi để trang trải cuộc sống cùng đưa mẹ già đi
theo, giúp đỡ một ông lão chính là Phật Di Đà, sau đó được tiếng tốt vang xa cả
thiên đình.
B.
Phạm Công quyết đi thi để thay đổi cuộc đời, số phận cho cha mẹ già, giúp đỡ một
ông lão chính là Phật Di Đà, sau đó được tiếng tốt vang xa cả thiên đình.
C.
Phạm Công quyết lên núi kiếm củi để trang trải cuộc sống cùng đưa mẹ già đi
theo, tình cờ giúp đỡ được nhà vua, tiếng thơm vang xa cả triều đình.
D.
Phạm Công quyết đi thi để thay đổi cuộc đời, số phận cho cha mẹ già, tình cờ
giúp đỡ được nhà vua, tiếng thơm vang xa cả triều đình.
Câu 2. Các nhân vật được nhắc đến và
xuất hiện trong đoạn truyện là:
A.
Phạm Công, người mẹ, ông lão già nghèo khổ, Ngọc Hoàng
B.
Phạm Công, người mẹ, ông lão già nghèo khổ chính là phật Di Đà, Ngọc Hoàng
C.
Phạm Công và cha mẹ
D.
Phạm Công, ông lão già nghèo khổ chính là phật Di Đà, Ngọc Hoàng
Câu 3. Đoạn thoại sau là lời của ai
nói với ai, về vấn đề gì?
Chứ ai sinh đẻ con ra
Bây giờ lụy đến mẹ già hổ ngươi
Nuôi con ngần ấy năm trời
Mẹ cha phải chịu một đời long đong
Công cha nghĩa mẹ ghi lòng
Làm sao trả đặng ơn cùng tổ tiên
A.
Phạm Công nói với người lão già về công ơn cha mẹ
B.
Phạm Công nói với người mẹ về công ơn cha mẹ
C.
Phạm Công nói với người cha về công ơn cha mẹ
D.
Phạm Công nói với cha mẹ về công ơn cha mẹ
Câu 4. Hoàn cảnh khốn khó của ông lão
kể với Phạm Công là gì?
A.
Ông lão không gia đình, không nơi nương tựa vì mồ côi từ nhỏ, phải vất vả mưu
sinh đến già
B.
Ông lão không gia đình, không nơi nương tựa vì bị lừa bán hết sạch của cải
trong nhà.
C.
Ông lão có một con trai nhưng vì con ăn chơi nên đã bán hết của cải, người con
dâu cùng con trai đuổi ông ra khỏi nhà.
D. Ông lão có một con trai nhưng con trai mất sớm,
người con dâu chiếm của cải và đuổi ông lão đi
Câu 5. Vì sao Phạm Công lại quyết đưa một
ít cơm nắm cho ông lão
A.
Vì chàng là người thơm thảo, có lòng thương người, muốn chia sẻ miếng ăn với
ông lão khốn khổ
B.
Vì chàng có rất nhiều cơm nắm việc san sẻ đó không ảnh hưởng gì
C.
Vì chàng biết ông lão là Phật Di Đà nên muốn lấy lòng
D.
Vì chàng biết ông lão giàu có, giúp đỡ ông lão sẽ được đền đáp.
Câu 6. Yếu tố nào của truyện thơ Nôm được
thể hiện nhiều hơn cả trong đoạn trích trên
A. Yếu
tố trữ tình
B. Yếu
tố tự sự
C. Yếu
tố miêu tả
D. Yếu
tố biểu cảm
Câu 7. Qua đoạn trích trên, Phạm Công
hiện lên là người như thế nào?
A.
Người con có hiếu, có lòng chung thủy
B.
Người con có hiếu, nhưng lại biết lợi dụng người khác để trục lợi cho bản thân
C.
Người có lòng yêu thương, ân nghĩa, có lòng hiếu thảo
D.
Người ăn chơi, bất hiếu, không có lòng thủy chung
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Cảm nhận của em về nhân vật Phạm
Công qua đoạn thơ:
Dù phải kiếm củi suốt đời
(170) Con đây cũng chẳng sợ ai chê cười”
Mẹ rằng: “Đừng thế con ơi
Kiếm củi thì lại suốt đời cháo rau”
Phạm Công nước mắt tuôn sầu:
“Làm trai là phải dãi dầu xông pha
(175) Chứ ai sinh đẻ con ra
Bây giờ lụy đến mẹ già hổ ngươi
Nuôi con ngần ấy năm trời
Mẹ cha phải chịu một đời long đong
Công cha nghĩa mẹ ghi lòng
(180) Làm sao trả đặng ơn cùng tổ
tiên”
Câu 9. Theo em văn bản trên có những
chủ đề nào? Hãy xác định chủ đề chính và ít nhất một chủ đề phụ của văn bản
Câu 10. Em hiểu thế nào về câu nói của Phạm
Công: Làm trai là phải dãi dầu xông pha.
Viết đoạn văn khoảng 7 – 10 câu trình bày quan điểm của em về chí làm trai trong xã hội phong kiến
xưa.
II. VIẾT (4.0 điểm)
Vì
có lòng tốt bụng, ân nghĩa mà Phạm Công đã được cứu giúp và có cuộc sống hạnh
phúc về sau. Bằng bài viết khoảng 2/3 trang giấy thi, em hãy bàn luận về vấn đề:
Lòng tốt kiên định có thể làm được nhiều
điều. Như mặt trời làm băng tan chảy, lòng tốt khiến sự hiểu nhầm, sự nghi ngờ
và thù địch bốc hơi. (Albert Schweitzer)
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
6.0 |
|
|
1 |
A |
0.5 |
|
2 |
B |
0.5 |
|
|
3 |
B |
0.5 |
|
|
4 |
C |
0.5 |
|
|
5 |
A |
0.5 |
|
|
6 |
B |
0.5 |
|
|
7 |
C |
0.5 |
|
|
8 |
HS
chỉ ra được một số phẩm chất của Phạm Công qua đoạn thơ -
Người có ý chí (chí làm trai) quyết tâm thay đổi cuộc đời,
số phận -
Người có lòng hiếu thảo quyết tâm đền báo công ơn của cha mẹ
già |
0.5 |
|
|
9 |
HS
có thể nêu nêu chủ đề chính và phụ, gợi ý như sau: - Chủ đề chính: Đề cao, ca ngợi phẩm chất
cao đẹp của con người chính nghĩa - Chủ đề phụ: +
Tình yêu thương của mẹ (mẹ lo lắng Phạm Công vất vả) +
Phê phán sự bất hiếu, vô đạo của những kẻ ăn chơi, không lo lắng cho cha mẹ
già (Câu chuyện của ông lão khốn khổ khi gặp hai mẹ con Phạm Công) … |
1.0 |
|
|
10 |
HS
trình bày các lí lẽ và bằng chứng để bàn luận về: Chí làm trai trong thời kì
phong kiến xưa. a. Khái quát vấn đề: Người đàn ông phải có ý
chí, quyết tâm học tập, lao động để thay đổi số phận và có cuộc sống để lại
tiếng thơm muôn đời b. Biểu hiện cụ thể qua hiểu biết và các tác phẩm đã học -
Đánh giặc, cứu nước -
Học hành, thi cử thành tài giúp đời giúp nước -
Đi làm ăn xa để thay đổi cuộc sống của chính mình c. Liên hệ với ý chí làm trai ngày
nay của thế hệ trẻ |
1.0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
4.0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một vấn đề xã
hội được rút ra từ tác phẩm văn học |
0.25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị
luận Phân tích và đánh giá: Một
vấn đề xã hội được rút ra từ tác phẩm văn học: Bàn về lòng tốt |
0.5 |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận
thành các luận điểm HS
có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được về tác phẩm, tiến
hành bàn luận về lòng tốt qua câu danh ngôn: Lòng tốt kiên định có thể làm được nhiều điều. Như mặt trời làm băng
tan chảy, lòng tốt khiến sự hiểu nhầm, sự nghi ngờ và thù địch bốc hơi. Sau đây là một hướng gợi ý: - Giới thiệu chung về tác phẩm và nhân vật
Phạm Công, tóm tắt phần đầu tác phẩm, đưa ra vấn đề được đặt ra ở phần đầu
tác phẩm - Phân tích câu danh ngôn: Lòng tốt kiên định có thể làm được nhiều điều. Như mặt trời
làm băng tan chảy, lòng tốt khiến sự hiểu nhầm, sự nghi ngờ và thù địch bốc
hơi. + Giải thích: “lòng tốt”: sự lương thiện,
phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ
người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác. + Phân tích: ●
Trong xã hội có rất nhiều mảnh đời chịu bất hạnh, đau
thương, khổ cực, việc chúng ta yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ những người đó
làm xoa dịu, giảm bớt nỗi đau của họ, xã hội cũng sẽ phát triển đẹp đẽ, vững
mạnh hơn. ●
Khi giúp đỡ người khác, ta sẽ nhận lại sự kính trọng, niềm
tin yêu của người khác và cả sự sẵn sàng giúp đỡ lại mình lúc mình gặp khó
khăn. ●
Mỗi người biết chia sẻ, yêu thương, giúp đỡ người khác sẽ
góp phần làm cho xã hội này giàu tình cảm hơn, phát triển văn minh hơn. + Chứng minh: HS lấy ví dụ để chứng minh + Phản biện: Trong xã hội vẫn có không
ít người có tính ích kỉ, nhỏ nhen, chỉ biết đến bản thân mình mà không cần
suy nghĩ cho người khác, lại có những người vô cảm mặc kệ nỗi đau của đồng loại,…
→ những người này cần bị phê phán, chỉ trích. - Liên hệ bản thân |
2.5 |
|
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0.25 |
|
|
|
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng;
cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. |
0.5 |
|
|
Tổng điểm |
10.0 |
||
ĐỀ 4
I.
ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc
văn bản sau:
TỐNG TRÂN – CÚC HOA
(Truyện thơ Nôm khuyết danh)
(Trích)
Mẹ chồng thấy dâu thảo hiền
Đôi hàng nước mắt chảy liền như tuôn.
Khó nghèo có mẹ có con,
Ít nhiều gan sẻ (1) vẹn
tròn cho nhau
Lòng con nhường nhịn bấy lâu
Mẹ ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng
Cúc Hoa nước mắt hai hàng:
“Lạy mẹ cùng chàng chở quản (2) tôi
Gọi là cơm tấm cạnh lê (3)
Mẹ ăn đỡ dạ kéo khi võ vàng (4)
Chàng ăn cho sống mình chàng,
Dốc lòng kinh sử văn chương đạo là.
Kể chi phận thiếp đàn bà,
Khó nghèo chớ quản nỗi nhà thảm
thương”.
Thương con mẹ giấu cho vàng,
Bảo rằng gìn giữ để nương tựa mình.
Cúc Hoa trong dạ đinh ninh:
“Lạy mẹ còn có chút tình thương con”.
Tức thì trở lại phòng môn,
Cầm tay đánh thức nỉ non bảo chồng:
“Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,
Nay vàng mẹ thiếp cho dùng một
chương”
Kể đoạn Cúc Hoa bán vàng,
Bán cho trưởng giả giàu sang hơn người.
Hai bên giả cả hẳn hoi,
Bắc cân định giả được ngoài tám mươi.
Cúc Hoa trở lại thư trai (5)
“Khuyên chàng kinh sử dùi mài cho
hay.
Thiếp xin rước một ông thầy,
Để chàng học tập đêm ngày thiếp
nuôi”.
Một ngày ba bữa chẳng rời,
Nuôi thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.
Nàng thời nhiều ít cũng xong
Đói no chẳng quản miễn chồng làm nên.
Khấn trời lạy Phật đòi phen:
“Chứng minh phù hộ ước nguyền chồng
tôi.
Khuyên chàng khuya sớm hôm mai,
Cố chăm việc học đua tài cho hay.
Một mai, có gặp rồng mây (6)
Bảng vàng may được tỏ bày họ tên (7)
Trước là sạch nợ bút nghiên (8)
Sau là thiếp cũng được yên lòng này”.
(Theo bản in của NXB Phổ thông Hà Nội
năm 1961,
Bùi Thức Phước sưu tầm & biên soạn, NXB Hội nhà văn, 2012)
Chú
thích:
(1) Gạn sẻ: Gạn - chắt
lọc và sẻ - chia sớt,
chia nhỏ
(2) Quản: e
ngại, ngại ngùng. Chở quản: không
e ngại, quan tâm.
(3) Canh lê: canh
nấu bằng rau lê; người nghèo thường ăn loại rau này.
(4) Võ vàng: gầy
và da không hồng hào vì thiếu máu.
(5) Thư trai: phòng
đọc sách, phòng học
(6) Rồng mây: hội
rồng mây, cơ hội người đi thi đậu làm nên danh phận cao sang như rồng gặp mây.
(7) Bảng vàng: bảng
màu vàng dùng để ghi tên thí sinh thi đỗ.
(8) Nợ bút nghiên: cha
mẹ lo cho ăn học, thầy dạy cho chữ nghĩa. Đó là nợ của học trò.
(Tóm
tắt tác phẩm: Tống Trân là con cầu tự của một cự phủ ở huyện Phù Hoa, đời
vua Thái Tông. Lên ba tuổi thì cha mất, lên tám tuổi thì phải dắt mẹ đi ăn mày.
Hôm ấy, Tống Trân dắt mẹ tới nhà của một trưởng giả, con gái của trưởng giả
thương tình mang gạo ra cho thì bị cha bắt gặp, bèn bắt nàng lấy Tống Trân làm
chồng, và đuổi khéo ra khỏi nhà. Dù vậy, Cúc Hoa vẫn chăm chỉ việc nhà, nàng bán cả vàng mẹ
cho để rước thầy về dạy chồng học. Học được nửa năm, vua mở hội thi. Tống Trân
tham dự kỳ thi cùng năm nghìn công sĩ. Chàng đậu Trạng nguyên được vua ban áo
mão và gả công chúa cùng tuổi cho chàng. Tống Trân lấy nhà nghèo mà từ chối, được
vua cho vinh quy bái tổ. Chưa vui sum họp được bao ngày thì Tống Trân phải từ
biệt Cúc Hoa về triều nhận chiếu chỉ đi sứ nước Tẩn dài tới mười năm do vua
nghe lời tấu xin của công chúa. Tới nước Tần, nhờ trí thông minh và tài khôn
khéo Tống Trận không chỉ thoát được những lần hãm hại mà còn giúp vua Tần xử
nhiều vụ án rắc rối. Thế nên từ tâm trạng khinh ghét vua Tần chuyển sang mến phục,
phong cho “lưỡng quốc Trạng nguyên” và gả công chúa cho chàng. Một lần nữa Tống
Trân viện cớ từ chối. Vua Tần không căm ghét mà lại cho xây nhà ở nội thành
giúp vua. Ở quê nhà, Cúc Hoa một lòng một dạ, làm lụng vất vả nuôi mẹ, chờ chồng.
Thấy Tống Trân bảy năm chưa về, trưởng giả sai người gọi Cúc Hoa về. Khuyến dụ
con gái không được, trưởng giả bèn nhốt và hành hạ nàng. Trưởng giả còn bắt mẹ
của Tống Trân xuống ở trong chuồng trâu. Quá đau khổ và quyết thủ tiết chờ chồng,
đêm hôm ấy Cúc Hoa trốn khỏi nhà. Đến núi Sơn Vi, nàng định quyên sinh. Thần
Sơn Tinh hiểu rõ tình cảnh, hóa thành mãnh hổ, mang thư của nàng qua nước Tần
trao tận tay Tống Trân. Nhận được thư, Tống Trân mang vào triều tâu lên vua.
Vua Tần cảm động khen ngợi. Và đồng ý
cho Tống Trân về nước trước kỳ hạn năm tháng. Tống Trân trả lời thư cho Cúc Hoa
và nhờ mãnh hổ mang về.
Ở
nhà, Phú ông đi tìm gặp và đưa Cúc Hoa về rao gả cho đình trưởng. Qua ba năm ở
rể của đỉnh trưởng, trưởng giả tổ chức đám cưới linh đình. Cùng lúc ấy Tống
Trân trên đường về. Tới đầu làng, biết rõ nguồn cơn, chàng đóng vai người ăn
mày vào xin ăn. Chàng len lỗi khắp nhà, tai nghe mắt thấy cảnh Cúc Hoa khóc chồng,
thương mẹ chồng, xuống chuồng trâu gặp và nói chuyện cùng mẹ. Tống Trân gặp và
biết suy nghĩ, cách đối xử của tất cả mọi người trong tiệc cưới. Tới ngày đình
trường rước dâu, Tống Trận cùng quân sĩ xuất hiện. Chàng xét xử phân minh, mẹ
con và vợ chồng đoàn tụ.
Ở
nước Tần, công chúa Bạch Hoa xin vua cha cho qua Nam Việt sum họp cùng Tống
Trân. Giữa biển khơi đoàn ghe tàu bị giông bão đánh chìm, công chúa trôi dạt
vào núi Cô Hồng, được bầy hươu rừng cứu sống, nuôi dưỡng. Tống Trân đi săn hươu
gặp và đưa công chúa về nhà, phân chia ngôi thứ, gia đình hạnh phúc.)
Lựa
chọn đáp án đúng:
Câu
1. Đặc
điểm của truyện thơ trong văn bản trên là:
A.
Có sự việc, cốt truyện, được kể bằng văn vần
B.
Có sự việc, cốt truyện, nhân vật và được kể bằng văn vần
C.
Có sự việc, cốt truyện và được kể bằng ngôi thứ ba
D.
Có sự việc, cốt truyện và có lời đối thoại
Câu
2. Các
nhân vật được nhắc đến và xuất hiện trong đoạn truyện là:
A. Tống
Trân, Cúc Hoa, mẹ Tống Trân (người mẹ chồng)
B. Tống
Trân, Cúc Hoa, mẹ Cúc Hoa
C. Tống
Trân, Cúc Hoa, trưởng giả
D. Tống
Trân, Cúc Hoa, mẹ Tống Trân (người mẹ chồng), mẹ Cúc Hoa, trưởng giả
Câu
3. Đoạn
thoại sau là lời của ai nói với ai, về vấn đề gì?
“Chàng ơi xin tỉnh giấc nồng,
Nay
vàng mẹ thiếp cho dùng một chương”
A. Tống
Trân nói với Cúc Hoa về việc bán vàng để lấy tiền ăn học
B.
Cúc Hoa nói với Tống Trân về việc mẹ nàng cho vàng để phòng thân.
C.
Cúc Hoa nói với Tống Trân về việc mẹ chồng cho vàng để làm của hồi môn.
D. Tống
Trân nói với Cúc Hoa về việc mẹ chồng cho vàng để hai vợ chồng làm ăn.
Câu
4. Hình
ảnh mẹ chồng hiện lên qua các câu thơ:
Mẹ
chồng thấy dâu thảo hiền
Đôi
hàng nước mắt chảy liền như tuôn.
Khó
nghèo có mẹ có con,
Ít
nhiều gan sẻ vẹn tròn cho nhau
A. Cảm
động, yêu thương con dâu
B. Lạnh
nhạt, xa cách con dâu
C.
Mang ơn con dâu, cảm thấy hổ thẹn
D.
Thấu tình đạt lí
Câu
5. Lời thoại
““Lạy mẹ còn có chút tình thương con” là kiểu lời thoại nào? Của ai với
ai?
A. Lời
đối thoại Cúc Hoa với mẹ mình
B. Lời
độc thoại Cúc Hoa nói với chính mình
C. Lời
đối thoại Cúc Hoa nói với chồng mình
D. Lời
đối thoại Cúc Hoa nói với mẹ chồng mình.
Câu
6. Từ Gạn sẻ được giải nghĩa trong văn bản là:
Gạn - chắt lọc và sẻ - chia sớt, chia nhỏ. Cách giải thích nghĩa của từ là:
A.
Phân tích nội dung nghĩa của từ
B. Sử
dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa
C.
Nêu định nghĩa
D.
Phân tích các thành tố cấu tạo
Câu
7. Qua
đoạn trích trên, Cúc Hoa hiện lên là người như thế nào?
A.
Người vợ hiền, dâu thảo, hết lòng vì chồng và nhà chồng
B.
Người con ngoan, vâng lời mẹ cha
C.
Người giàu tình yêu thương và trượng nghĩa
D.
Người phụ nữ toan tính, cho chồng tiền ăn học cũng vì tương lai của mình
Trả
lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu
8. Cảm
nhận của em về nhân vật Cúc Hoa qua đoạn thơ:
Một
ngày ba bữa chẳng rời,
Nuôi
thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.
Nàng
thời nhiều ít cũng xong
Đói
no chẳng quản miễn chồng làm nên.
Câu
9. Theo
em văn bản trên có những chủ đề nào? Hãy xác định chủ đề chính và ít nhất một
chủ đề phụ của văn bản
Câu
10. Đoạn thơ
sau cho thấy được số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa:
Chàng
ăn cho sống mình chàng,
Dốc
lòng kinh sử văn chương đạo là.
Kể
chi phận thiếp đàn bà,
Khó
nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương”.
Bằng
hiểu biết của em và về nội dung của truyện thơ, hãy viết đoạn văn ngắn khoảng
10 câu trình bày về số phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến
xưa.
II.
VIẾT (4.0 điểm)
Viết
bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích nhân vật Cúc Hoa qua đoạn truyện thơ
trên và cho biết đoạn trích trên thể hiện giá trị văn hóa và triết lí nhân sinh
nào?
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội
dung |
Điểm |
|
I |
ĐỌC
HIỂU |
6.0 |
|
|
1 |
B |
0.5 |
|
|
2 |
D |
0.5 |
|
|
3 |
B |
0.5 |
|
|
4 |
A |
0.5 |
|
|
5 |
B |
0.5 |
|
|
6 |
D |
0.5 |
|
|
7 |
A |
0.5 |
|
|
8 |
Nhân
vật Cúc Hoa hết lòng vì chồng và gia đình chồng, lo lắng cho mẹ chồng. Mong
gia đình có đầy đủ bữa ăn hàng ngày còn bản thân nàng thì như nào cũng không
đáng lo vì chỉ mong chồng có thể công thành danh toại, làm nên sự nghiệp |
0.5 |
|
|
9 |
HS
có thể nêu nêu chủ đề chính và phụ, gợi ý như sau: - Chủ
đề chính: Vẻ đẹp phẩm chất (hiếu thảo, thủy chung) của người phụ nữ trong
xã hội phong kiến xưa - Chủ
đề phụ: +
Số phận đầy thiệt thòi, vất vả của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa +
Tình thương yêu của mẹ chồng đối với nàng dâu trong xã hội đầy ngang trái xưa
… |
1.0 |
|
|
10 |
HS
trình bày các lí lẽ và bằng chứng để bàn luận về: Số phận người phụ nữ trong
xã hội phong kiến xưa a.
Khái quát vấn đề: Người thiệt thỏi, vất vả, biết hy sinh, chịu đựng nhưng cũng là người
đầy hiếu thảo, thủy chung, hết lòng hết dạ vì nhà chồng b. Biểu hiện cụ thể qua
hiểu biết và các tác phẩm đã học -
Chấp nhận chịu khổ (nhịn ăn, nhịn uống) để chồng có thể có cơ hội học tập, có
tiền đồ sáng lạng -
Hy sinh tất cả của cải hay những gì mình có để tạo cơ hội cho chồng học tập đỗ
đạt -
Họ tự nhận thân phận thiệt thòi, cam chịu những định kiến xã hội và không có
quyền tự quyết cuộc đời của mình |
1.0 |
|
|
II |
VIẾT |
4.0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài
văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học |
0.25 |
||
|
b.
Xác định đúng vấn đề nghị luận Phân
tích và đánh giá: +
Nhân vật
Cúc Hoa qua đoạn trích +
Giá trị
văn hóa và triết lí nhân sinh qua đoạn trích |
0.5 |
||
|
c.
Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HS
có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được về tác phẩm, tiến
hành phân tích nhân vật Cúc Hoa và phân tích giá trị văn hóa, triết lí nhân
sinh qua tác phẩm Sau
đây là một hướng gợi ý: - Giới
thiệu chung về tác phẩm và nhân vật Cúc Hoa -
Phân tích nhân vật Cúc Hoa +
Người con dâu hiếu thảo: Gia đình khó khăn nhưng nàng vẫn lo lắng cho bữa ăn qua
ngày của mẹ chồng hơn chính bản thân Mẹ
chồng thấy dâu thảo hiền Đôi
hàng nước mắt chảy liền như tuôn. Khó
nghèo có mẹ có con, Ít
nhiều gan sẻ (1) vẹn tròn cho nhau Lòng
con nhường nhịn bấy lâu Mẹ
ăn cơm ấy ngon đâu hỡi nàng Cúc
Hoa nước mắt hai hàng: “Lạy
mẹ cùng chàng chở quản (2)
tôi Gọi
là cơm tấm cạnh lê (3) Mẹ
ăn đỡ dạ kéo khi võ vàng (4) +
Người vợ thủy chung, biết hi sinh và lo lăng cho chồng: Lo lắng cho bữa ăn của chồng,
bán vàng để lấy tiền thuê thầy thợ cho chồng ăn học và thi cử đỗ đạt, không
quản ngại gian khó và không lo lắng cho chính mình
Chàng
ăn cho sống mình chàng, Dốc
lòng kinh sử văn chương đạo là. Kể
chi phận thiếp đàn bà, Khó
nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương”.
Kể
đoạn Cúc Hoa bán vàng, Bán
cho trưởng giả giàu sang hơn người. Hai
bên giả cả hẳn hoi, Bắc
cân định giả được ngoài tám mươi “Khuyên
chàng kinh sử dùi mài cho hay. Thiếp
xin rước một ông thầy, Để
chàng học tập đêm ngày thiếp nuôi”.
Một
ngày ba bữa chẳng rời, Nuôi
thầy, nuôi mẹ lại nuôi cả chồng.
Khấn
trời lạy Phật đòi phen: “Chứng
minh phù hộ ước nguyền chồng tôi. Khuyên
chàng khuya sớm hôm mai, Cố
chăm việc học đua tài cho hay. Một
mai, có gặp rồng mây (6) Bảng
vàng may được tỏ bày họ tên (7) Trước
là sạch nợ bút nghiên (8) Sau
là thiếp cũng được yên lòng này”. +
Người thấu tình đạt lí, cam chịu chấp nhận thiệt thòi: Nàng chấp nhận thân phận nữ
nhi để chồng có cơ hội phát triển và gây dựng sự nghiệp Chàng
ăn cho sống mình chàng, Dốc
lòng kinh sử văn chương đạo là. Kể
chi phận thiếp đàn bà, Khó
nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương”. -
Giá trị văn hóa, triết lí nhân sinh +
Mối quan hệ mẹ chồng – nàng dâu không theo lẽ thường Thông
thường là mối quan hệ nhiều mâu thuẫn, nhưng mẹ chồng và nàng dâu hết mực yêu
thương, hòa thuận, nàng dâu hiếu thảo khiến mẹ chồng cảm động, sẵn lòng đồng
cam cộng khổ không lời oán trách Mẹ
chồng thấy dâu thảo hiền Đôi
hàng nước mắt chảy liền như tuôn. Khó
nghèo có mẹ có con, Ít
nhiều gan sẻ (1) vẹn tròn cho nhau +
Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa: Họ sẵn sàng hi sinh sự hạnh phúc,
đầy đủ ấm no của mình để chồng và gia đình chồng được toàn vẹn, bởi với người
phụ nữ đó là trách nhiệm, là lẽ đương nhiên mà bất kì người phụ nữ nào trong
xã hội xưa cũng đều phải làm. Tư tưởng trọng nam khinh nữ và những áp lực vô
hình đè lên vai người phụ nữ xưa. Kể
chi phận thiếp đàn bà, Khó
nghèo chớ quản nỗi nhà thảm thương”. |
2.5 |
||
|
d.
Chính tả, ngữ pháp Đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0.25 |
||
|
e.
Sáng tạo:
Bài viết có giọng điệu riêng ; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong
trôi chảy. |
0.5 |
||
|
Tổng
điểm |
10.0 |
||
ĐỀ 5
I.
ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TÚ UYÊN – GIÁNG
KIỀU
(Trích)
Lần trăng
ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông
khêu cạn, giấc hoè (1) chưa nên.
Nỗi nàng
canh cánh nào quên,
Vẫn còn
quanh quẩn người tiên khéo là!
Bướm kia
vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương
tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân (2)
Cầu hoàng (3) tay lựa nên
vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân (4)
lòng nào!
Có khi chuốc chén rượu đào,
Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao (5)
đã đầy.
Hơi men không nhấp mà say,
Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên (6) điểm nguyệt,
chuông kình (7) nện sương.
Lặng nghe những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ đốt, sông Tương (8)
khôn hàn.
Có đêm ngắm bóng trăn tàn,
Tiếng chiêm hót sớm, trận nhàn (9)
bay khuya.
Ngổn ngang cảnh nọ tình kia,
Nỗi riêng, riêng biết, dã dề (10)
với ai!
Vui xuân chung cảnh một trời,
Sầu xuân riêng nặng một người tương
tư
(Bích Câu
kì ngộ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015)
Chú thích:
(1) Giấc hoè: ở
đây chỉ giấc mơ (dựa theo điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say, nằm ngủ dưới gốc
cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoà An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển,
khi tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một
tổ kiến).
(2) Hoài nhân:
nhớ người.
(3) Cầu hoàng:
khúc đàn cầu hôn (tìm vợ) của Tư Mã Tương Như (bậc văn tài thời Hán, gảy đàn rất
hay).
(4) Văn Quân:
Trác Văn Quân là một cô gái đẹp goá chồng, nghe khúc Cầu hoàng của Tương Như,
phải lòng đi theo.
(5) Ngọc giao: mời
nhau rượu đựng trong chén ngọc để kết giao.
(6) Mõ quyên:
mõ khắc hình chim đỗ quyên.
(7) Chuông kình:
cái chuông có dài làm thành hình con cá kinh (cả voi).
(8) Sông Tương:
chỉ nước mắt (Dựa theo điển tích vua Thuấn mất ở Thương Ngô, hai người vợ là
Nga Hoàng và Nữ Anh cùng thương khóc thảm thiết ở trên sông Tương Giang, vì vậy,
người ta dùng sông Tương hay mạch Tương, sóng Tương để ví với nước mắt).
(9) Trận nhàn:
hàng chim nhạn. Xưa, chim hồng, chim nhạn thường được dùng để nói về tin tức.
(10) Dã dề:
chuyện trò niềm nở, thân tình
Tóm tắt tác phẩm: Chuyện
kể về một thư sinh ở vào đời Lê Thánh Tôn' tên gọi Trần Tú Uyên. Cha mẹ mất sớm,
chàng dựng nhà ở giữa hồ Bích Câu để chuyên tâm đèn sách. Trong một dịp tình cờ,
khi đi hội ở chùa Ngọc Hồ, Tú Uyên gặp được một cô gái đẹp như tiên giáng trần,
bèn đi theo thì nàng chợt biến mất không rõ tung tích, nên chàng mắc bệnh tương
tư. Sau đó, Tú Uyên mua được một bức tranh vẽ hình mĩ nữ hệt như người chàng đã
gặp, mang về treo trong nhà. Một thời gian sau, lúc nào từ trường về nhà, Tú
Uyên cũng thấy cơm nước sẵn sàng. Chàng rình xem, thấy mĩ nhân trong tranh bước
ra, vội chạy vào chào hỏi. Người con gái xưng là tiên nữ Giáng Kiều, nguyện
cùng chàng kết nhân duyên. Hai người sống với nhau hạnh phúc được ba năm, song
Tú Uyên dần trở nên nghiện rượu. Giáng Kiều khuyên chồng không được, bèn bỏ về
tiên giới. Tú Uyên hối hận, sinh ra sầu não, đau ốm, định quyên sinh. Đúng lúc ấy,
Giảng Kiều hiện ra, tha lỗi cho chồng, hai vợ chồng nối lại duyên xưa. Từ đó,
Tú Uyên nghe lời vợ chuyên tâm tu đạo. Cuối cùng, có đôi chim hạc từ trên mây
bay xuống đưa hai vợ chồng về cõi tiên.
Lựa
chọn đáp án đúng:
Câu
1. Thể thơ của truyện thơ trên là:
A.
Thất ngôn xen lục ngôn
B. Song
thất lục bát
C. Lục
bát
D. Thơ
trường thiên bảy chữ
Câu
2. Nhân vật chính được nói đến trong đoạn trích trên là:
A.
Nhân vật nữ: Giáng Kiều
B. Nhân
vật nam: Tú Uyên
C.
Nhân vật nữ và nhân vật nam: Giáng Kiều – Tú Uyên
D. Nhân
vật người kể chuyện
Câu
3. Cảm xúc của nhân vật Tú Uyên được thể hiện trong bốn câu thơ dưới đây
là gì?
Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hoè chưa nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo là!
Bướm kia vương lấy sầu hoa,
Đoạn tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh!
A.
Tương tư, thương nhớ bất kể ngày đêm, nhớ người đẹp đến mức “ngẩn ngơ” trong
lòng.
B. Tương
tư, thương nhớ vì biết chắc sẽ không có ngày gặp lại
C.
Tương tư, sầu muộn vì không gặp được người đẹp
D. Tương
tư, sầu muộn, đau đớn đến nao lòng vì không được gặp lại người đẹp.
Câu
4. Đoạn thơ từ “Có khi gẩy khúc đàn tranh” cho đến “Mõ quyên điểm
nguyệt, chuông kình nện sương” sử dụng biện pháp tu từ gì?
A.
Biện pháp lặp cấu trúc
B. Biện
pháp so sánh
C.
Biện pháp nhân hóa
D.
Biện pháp điệp từ
Câu
5. Liệt kê những hành động, cử chỉ mà nhân vật Tú Uyên làm để giãi bày nỗi
nhớ người đẹp.
A. Gẩy
đàn tranh, uống chén rượu đào, ngắm bóng trăng tàn, cất lời ca tiếng hát.
B. Gẩy
đàn tranh, uống chén rượu đào, ngồi suốt năm canh, ngắm hoa thưởng nguyệt.
C. Gẩy
đàn tranh, uống chén rượu đào, ngồi suốt năm canh, ngắm bóng trăng tàn.
D. Gẩy
đàn tranh, uống chén rượu đào, ngắm bóng trăng tàn, ngâm thơ.
Câu
6. Nội dung chính của đoạn truyện thơ trên là gì?
A. Nỗi
buồn của nhân vật Tú Uyên sau khi gặp người đẹp.
B. Nỗi
niềm tương tư của nhân vật Tú Uyên sau khi gặp người đẹp.
C. Nỗi
sầu của nhân vật Tú Uyên sau khi gặp người đẹp.
D. Nỗi
xót xa của nhân vật Tú Uyên khi biết không thể gặp lại người đẹp.
Câu
7. Nhân vật Tú Uyên hiện lên qua đoạn trích là người như thế nào?
A.
Chàng trai yêu đương mùa quáng.
B.
Chàng trai si tình, có lòng thủy chung.
C.
Chàng trai trân trọng cái đẹp và yêu thích cái đẹp.
D. Chàng
trai biết yêu bản thân.
Trả
lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu
8. Phân
tích giá trị biểu đạt của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ
sau:
Có khi gảy khúc đàn tranh,
Nước non ngao ngán ra tình hoài nhân.
Cầu hoàng tay lựa nên vần,
Tương Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào!
Có khi chuốc chén rượu đào,
Tiệc mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy.
Hơi men không nhấp mà say,
Như xông mùi nhớ, lại gây giọng tình.
Có khi ngồi suốt năm canh,
Mõ quyên điểm nguyệt, chuông kình nện
sương.
Lặng nghe những tiếng đoạn trường,
Lửa tình dễ đốt, sông Tương khôn hn.
Có đêm ngắm bóng trăn tàn,
Tiếng chiêm hót sớm, trận nhàn bay
khuya.
Câu
9. Chỉ
ra những đặc điểm của truyện thơ Nôm trong văn bản.
Câu
10. Từ
nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu)
so sánh hai đoạn thơ nói về tâm trạng tương tư của Tú Uyên trong Bích Câu kì ngộ
và của Kim Trọng trong Truyện Kiều:
- Lần trăng ngơ ngẩn ra về,
Đèn thông khêu cạn, giấc hòe chưa
nên.
Nỗi nàng canh cánh nào quên,
Vẫn còn quanh quẩn người tiên khéo
là?
(Bích Câu kì ngộ)
- Chàng Kim từ lại thư song
Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng
khuây.
Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.
(Truyện Kiều)
II.
VIẾT (4.0 điểm)
Dựa
vào nội dung của văn bản trên và những hiểu biết về truyện thơ Nôm, em hãy viết
bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá về đoạn trích truyện thơ Nôm
trên.
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội
dung |
Điểm |
||||||||
|
I |
ĐỌC
HIỂU |
6.0 |
|||||||||
|
1 |
C |
0.5 |
|||||||||
|
2 |
B |
0.5 |
|||||||||
|
3 |
A |
0.5 |
|||||||||
|
4 |
A |
0.5 |
|||||||||
|
5 |
C |
0.5 |
|||||||||
|
6 |
B |
0.5 |
|||||||||
|
7 |
B |
0.5 |
|||||||||
|
8 |
Biện
pháp lặp cấu trúc “Có khi” Lặp
đi lặp lại 4 lần thể hiện những hành động của Tú Uyên khi không thể không
nghĩ về người thiếu nữ đó. Chàng nhớ nàng chỉ nghĩ thôi chưa đủ, phải “gảy
nên khúc đàn tranh” mong nàng nghe được tấm chân tình này, giống như cô gái
Văn Quân khi nghe được tiếng đàn “Cầu hoàng” của Tương Như nên phải lòng đi
theo. Phải mượn men say của “chén rượu đào” để thổ lộ tâm tư thầm kín hay
chính là “mượn rượu để tỏ tình”. Tú Uyên mong được uống với nàng chén “ngọc
giao” để kết duyên đôi lứa. |
0.5 |
|||||||||
|
9 |
Đặc
điểm truyện thơ trong văn bản - Về
yếu tố tự sự: đoạn trích xoay quanh câu chuyện của chàng Tú Uyên sau khi
gặp thiếu nữ xinh đẹp đã về nhà tương tư, thầm nhớ nhung. - Về
yếu tố trữ tình: truyện tập trung bộc lộ yếu tố đó thông qua tâm trạng của
nhân vật Tú Uyên. Đoạn trích là dòng tâm trạng, cảm xúc, giúp chúng ta đi sâu
vào thế giới của những suy tư, nỗi niềm tâm trạng tương tư của nhân vật trong
tình yêu. Ngoài ra, chất trữ tình còn được bộc lộ qua khung cảnh thiên nhiên.
Việc xuất hiện của thiên trong truyện thơ được gắn chặt với việc thể hiện tâm
tình nhân vật. |
1.0 |
|||||||||
|
10 |
Học
sinh đưa ra suy nghĩ của mình về vấn đề
|
1.0 |
|||||||||
|
II |
VIẾT |
4.0 |
|||||||||
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài
văn nghị luận phân tích, đánh giá một tác phẩm văn học |
0.25 |
||||||||||
|
b.
Xác định đúng vấn đề nghị luận Phân
tích nội dung và nghệ thuật trong đoạn trích truyện thơ Nôm “Bích Câu kì ngộ”
|
0.5 |
||||||||||
|
c.
Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HS
có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được tác giả, tác phẩm
và các nét đặc sắc trong bài thơ - Sau đây là một hướng gợi ý: 1. Giới thiệu chung về tác phẩm và
đoạn trích - Nội dung chính: Diễn tả tâm tư của Tú Uyên sau
khi gặp người đẹp ở hội chùa Ngọc Hồ - Nhan đề Nỗi niềm tương tư: Nói về hành động, cử
chỉ của Tú Uyên nhằm thể hiện nỗi tương tư, nhớ nhung Giáng Kiều một cách mòn
mỏi, da diết. 2. Phân tích đoạn trích Về nội dung: Tâm trạng tương tư của
Tú Uyên -
Khi trở về nhà, chàng đem lòng thương nhớ, tương tư bất kể ngày lẫn đêm: Lần
trăng ngơ ngẩn ra về, Đèn
thông khêu cạn, giấc hòe chưa nên. Nỗi
nàng canh cánh nào quên, Vẫn
còn quanh quẩn người tiên khéo là! Bướm
kia vương lấy sầu hoa, Đoạn
tương tư ấy nghĩ mà buồn tênh! Ta
có thể thấy được nét si tình ở chàng Tú Uyên, chỉ vì một giây trông thấy, mà
giường như chàng đã cả một đời nhớ thương. Chàng si mê nàng đến nỗi “ngơ ngẩn”,
đến nỗi đèn thông cháy đã cạn mà chàng vẫn thao thức chưa ngủ được “giấc hòe
chưa nên”. Chàng nghĩ về người con gái xinh đẹp đó phải chăng là tiên nữ, biết
bao giờ mới được gặp lại. -
Nỗi nhớ người trong mộng không chỉ được thể hiện ở suy tư của chàng thư sinh
mà còn được bộc lộ, thể hiện bằng cử chỉ: Có
khi gảy khúc đàn tranh, Nước
non ngao ngán ra tình hoài nhân. Cầu
hoàng tay lựa nên vần, Tương
Như lòng ấy, Văn Quân lòng nào! Có
khi chuốc chén rượu đào, Tiệc
mời chưa cạn, ngọc giao đã đầy. Hơi
men không nhấp mà say, Như
xông mùi nhớ, lại gây giọng tình. Có
khi ngồi suốt năm canh, Mõ
quyên điểm nguyệt, chuông kình nện sương. Lặng
nghe những tiếng đoạn trường, Lửa
tình dễ đốt, sông Tương khôn hn. Có
đêm ngắm bóng trăn tàn, Tiếng
chiêm hót sớm, trận nhàn bay khuya. +
Từ “có” lặp đi lặp lại 4 lần thể hiện những hành động của Tú Uyên khi không
thể không nghĩ về người thiếu nữ đó. Chàng nhớ nàng chỉ nghĩ thôi chưa đủ, phải
“gảy nên khúc đàn tranh” mong nàng nghe được tấm chân tình này, giống như cô
gái Văn Quân khi nghe được tiếng đàn “Cầu hoàng” của Tương Như nên phải lòng
đi theo. Phải mượn men say của “chén rượu đào” để thổ lộ tâm tư thầm kín hay
chính là “mượn rượu để tỏ tình”. Tú Uyên mong được uống với nàng chén “ngọc
giao” để kết duyên đôi lứa. +
Lúc này chàng say nhưng lại không phải say rượu, cơn say này được ví như “mùi
nhớ” hay chính là say ân tình với nàng tiên nữ. Chàng còn phải “ngồi suốt năm
canh” để nghe những “tiếng đoạn trường”, vì không biết bao giờ mới có thể gặp
được người thương nên chàng nhớ mong, đau đớn như đứt từng khúc ruột. +
Đặc biệt, tác giả dựa vào tuyền thuyết hai người vợ Nga Hoàn và Nữ Anh cùng
khóc thảm thiết trên sông Tương Giang khi Vua Thuần mất để dùng từ “sông
Tương” ví với nước mắt, nước mắt ở đây là nước mắt của Tú Uyên khi để lạc mất
người mình hằng mong nhớ, lạc mất đi cả cuộc đời. Chàng còn ngồi “ngắm bóng
trăng tàn”, hy vọng về một chút tin tức của nàng. -
Nỗi nhớ đó dù đã được bộc lộ nhưng vẫn “ngổn ngang” không ngơi: Ngổn
ngang cảnh nọ tình kia, Nỗi
riêng, riêng biết, dã đề với ai! Vui
xuân chung cảnh một trời, Sầu
xuân riêng nặng một người tương tư Về nghệ thuật: Nghệ thuật đặc sắc của
truyện thơ Nôm -
Biện pháp nghệ thuật nổi bật trong đoạn trích: điệp cấu trúc “Có khi…”. -
Sử dụng các điển tích, điển cố mang đậm tính chất truyện nôm bác học -
Việc sử dụng liên tiếp cấu trúc đó giúp đoạn trích bộc lộ rõ nét được tâm trạng
tương tư, thầm thương, trộm nhớ của Tú Uyên, nỗi nhớ ấy không nguôi, ngày đêm
mơ tưởng đến bóng dáng người thiếu nữ ấy.
|
2.5 |
||||||||||
|
d.
Chính tả, ngữ pháp Đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0.25 |
||||||||||
|
e.
Sáng tạo:
Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. |
0.5 |
||||||||||
|
Tổng
điểm |
10.0 |
||||||||||
Đề 6
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
LỤC VÂN TIÊN
(Nguyễn Đình
Chiểu)
(Trích)
Vân Tiên ghé lại
bên đàng,
Bẻ cây làm gậy, nhằm làng xông vô.
Kêu rằng: “Bớ đảng hung đồ!
Chớ quen làm thói hồ đồ (1) hại dân.”
Phong Lai(2) mặt đỏ phừng phừng:
“Thằng nào dám tới lẫy lừng(3) vào đây.
Trước gây việc dữ tại mầy, (4)
Truyền quân bốn phía phủ vây bịt bùng.”
Vân Tiên tả đột hữu xông(5),
Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang. (6)
Lâu la bốn phía vỡ tan,
Đều quăng gươm giáo tìm đàng chạy ngay.
Phong Lai trở chẳng kịp tay,
Bị Tiên một gậy thác rày thân vong. (7)
Dẹp rồi lũ kiến chòm ong,
Hỏi: “Ai than khóc ở trong xe này?”
Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay,
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ.
Trong xe chật hẹp khôn phô, (8)
Cúi đầu trăm lạy, cứu cô tôi cùng.”
Vân Tiên nghe nói động lòng,
Đáp rằng: “Ta đã trừ dòng lâu la.
Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái, ta là phận trai.
Tiểu thư con gái nhà ai,
Đi đâu nên nỗi mang tai bất kỳ. (9)
Chẳng hay tên họ là chi?
Khuê môn(10) phận gái việc gì đến đây?
Trước sau chưa hãn dạ nầy, (11)
Hai nàng ai tớ, ai thầy nói ra?”
Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
Con này tì tất (12)tên là Kim Liên.
Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
Sai quân đem bức thư về,
Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
Làm con đâu dám cãi cha,
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!
Chẳng qua là sự bất bình, (13)
Hay vầy(14) cũng chẳng đăng trình (15) làm chi.
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy,
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi. (16)
Trước xe quân tử (17) tạm ngồi,
Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa:
Chút tôi(18) liễu yếu đào thơ, (19)
Giữa đường lâm phải bụi dơ đã phần. (20)
Hà Khê qua đó cũng gần,
Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng.
Gặp đây đương lúc giữa đàng,
Của tiền không có, bạc vàng cũng không.
Gẫm câu báo đức thù công, (21)
Lấy chi cho phỉ(22) tấm lòng cùng ngươi.”
Vân Tiên nghe nói liền cười:
“Làm ơn há dễ trông người trả ơn.
Này đà rõ đặng nguồn cơn,
Nào ai tính thiệt so hơn làm gì?
Nhớ câu kiến ngãi bất vi,
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng(23)”
(Nguyễn Đình Chiểu, Truyện Lục Vân
Tiên, trong Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 1, NXB Đại học và THCN, Hà Nội,
1980)
Chú thích
(Tóm tắt
tác phẩm: Lục Vân Tiên quê ở quận Đông Thành, khôi ngô tuấn tú, tài
kiêm văn võ. Nghe tin triều đỉnh mở khoa thi, Văn Tiên từ giã thấy xuống núi
đua tài. Trên đường về nhà thăm cha mẹ, gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành,
chàng đã một mình đánh tan bọn cướp, cứu được Kiểu Nguyệt Nga. Cảm ăn đức ấy,
Nguyệt Nga đã tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên và tự tay về một bức hình
chàng giữ luôn bên mình. Còn Vân Tiên tiếp tục hành trình, gặp và kết bạn với
Hơn Minh, một sĩ tử khác.
Sau
khi về thăm cha mẹ, Vân Tiên cùng tiểu đồng lên đường đi thi, ghé thăm Võ Công,
người đã hứa gả con gái là Võ Thể Loan cho chàng. Từ đây, Vân Tiên có thêm người
bạn đồng hành là Vương Tử Trực, tới kinh đô lại gặp Trịnh Hàm, Bùi Kiệm. Thấy
Vân Tiên tài cao, Hàm, Kiệm sinh lòng đố kị ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi.
Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liên bỏ thị trở về quê chịu tang. Dọc đường về,Vân
Tiên đau mắt nặng, rồi bị mù cả hai mất, lại bị Trịnh Hâm lửa đẩy xuống sông.
Nhờ giao long dìu đỡ đưa vào bài, Vân Tiên được gia đình ông Ngư cưu mang. Sau
đó chàng lại bị cha con Võ Công hàm hại đem bỏ vào hang núi Thương Tông. Được
Du thần và ông Tiểu cứu ra, Vân Tiênmay mắn gặp lại Hớn Minh (vì trừng trị cậu
công tử con quan ỷ thế làm cần mà Hớn Minh phải bỏ thi sống lẩn lút trong rừng).
Hớn Minh đón bạn về nương náu ở nơi am vắng. Khoa thi năm ấy Tử Trực đỗ thủ
khoa, trở lại nhà họ Võ hỏi thăm tin tức Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý muốn gả con
gái, bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt, Võ Công hổ thẹn ốm chết.
Nghe
tin Lục Vân Tiên đã chết, Kiểu Nguyệt Nga thể sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư
đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng thù oán, tâu vua bắt
Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình
Vân Tiên nhảy xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ
Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi, nhưng Bùi Kiệm lại một hai đòi lấy nàng
làm vợ. Nguyệt Nga phải trốn khỏi nhà họ Bùi, vào rừng, nương nhờ một bà lão dệt
vải.
Lục
Vân Tiên ở với Hớn Minh, được tiên cho thuốc, mất lại sáng, liên trở về nhà
thăm cha, viếng mộ mẹ, thăm cha của Kiều Nguyệt Nga. Đến khoa thi, chẳng đỗ Trạng
nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Hôn Minh được tiến cử làm phó tưởng.
Đánh tan giặc, Vân Tiên một mình lạc trong rừng, đến nhà lão bà hỏi thăm đường
và gặp lại Nguyệt Nga. Chàng về triều tàu hết sự tình, kẻ gian ác bị trừng trị,
người nhân nghĩa được đền đáp, Lục Vân Tiên và Kiểu Nguyệt Nga sum vầy hạnh
phúc.
Đoạn trích: Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt
Nga nằm ở phần đầu của truyện)
(1) Hồ đồ: lơ mơ không rõ, thiếu căn cứ
rõ ràng. Ở đây chỉ thói làm càn, không chính đáng.
(2) Phong Lai: tên của kẻ cầm đầu bọn cướp.
(3) Lẫy lừng: vang dội, lừng danh, khắp nơi đều
biết. Ở đây dùng nghĩa cổ, có nghĩa là dữ dội, hung hăng gây sự.
(4) Mầy: mày (tiếng miền Nam).
(5) Tả đột hữu
xông (hữu xung): đánh vào bên trái, xông thẳng bên phải, ý nói thế chủ động
tung hoành khi lâm trận.
(6) Triệu Tử
phá vòng Đương Dang (Đương Dương): Triệu Vân, tên chữ là Tử Long, một
tướng trẻ có tài của Lưu Bị thời Tam quốc. Khi Lưu Bị bị quân Tào đánh đuổi, chạy
đến Đương Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc), phải bỏ cả vợ con chạy về
phía nam. Triệu Vân một mình phá vòng vây của Tào Tháo, bảo vệ A Đẩu, con nhỏ của
Lưu Bị.
(7) Thân vong: ý nói chết bỏ mạng (thân:
thân xác, vong: mất).
(8) Khôn phô: khó nói, khó mà bày tỏ được
hết.
(9) Mang tại bất
kì: bất
ngờ, thình lình gặp tai nạn.
(10) Khuê môn: cửa phòng của người con gái.
Khuê môn phận gái : phận đàn bà con gái ở chốn buồng the, không đi ra ngoài –
theo luân lí phong kiến ngày xưa.
(11) Chưa hãn dạ
nầy (tiếng miền Nam): lòng này chưa tỏ, chưa biết chắc chắn (hãn: rõ).
(12) Tì tất: đầy tớ gái.
(13) Sự bất
bình: việc
không bình thường, không may xảy ra ngoài ý muốn của mình, ý nói không ngờ bị bọn
cướp bắt.
(14) Hay vầy
(tiếng miền Nam): biết như thế này.
(15) Đăng
trình:
lên đường đi xa.
(16) Ý cả câu: cái trinh tiết, phẩm giá mà
người con gái gìn giữ cả một đời bỗng chốc có thể bị phá hỏng.
(17) Quân tử: tiếng người phụ nữ tôn gọi
người con trai có tài, có đức thời xưa.
(18) Chút tôi: cái tôi nhỏ bé, một cách nói
khiêm tốn để chỉ mình khi xưng hô với người khác.
(19) Liễu yếu
đào thơ:
nói thể chất của người con gái mềm mại, yếu ớt.
(20) Đã phần: đã là phần của tôi, ý nói giữa
đường gặp phải bọn cướp, lâm vào hoàn cảnh xấu.
(21) Báo đức
thù công:
báo trả ơn đức, đền đáp công lao.
(22) Phỉ: thoả đáng, xứng đáng, thoả
lòng.
(23) Kiến nghĩa
bất vi:
thấy việc nghĩa không làm. Cả hai câu thơ ý nói thấy việc nghĩa mà bỏ qua không
làm thì không phải là người anh hùng.
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định ngôi kể trong truyện
thơ Nôm trên:
A.
Ngôi thứ nhất
B. Ngôi
thứ hai
C.
Ngôi thứ ba
D. Ngôi
thứ hai và ngôi thứ ba
Câu 2. Hai câu thơ “Vân Tiên tả đột hữu
xông – Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dang” sử dụng phép tu từ gì?
A.
Nói quá
B. Ẩn
dụ
C.
Nhân hóa
D.
So sánh
Câu 3. Hình ảnh “Lục Vân Tiên cứu Kiều
Nguyệt Nga” được khắc họa giống với mô-tip nào trong truyện cổ?
A. Một
chàng trai tài giỏi, cứu một cô gái thoát khỏi hiểm nguy, họ trả nghĩa nhau và
thành vợ chồng
B. Một
ông vua mang hạnh phúc đến cho một con người đau khổ.
C.
Những con người ăn ở hiền lành, thật thà, phúc đức sẽ được đền đáp xứng đáng.
D. Một
anh nông dân nghèo nhờ chăm chỉ đã lấy được vợ đẹp và trở nên giàu có.
Câu 4. Hai câu thơ “Gẫm câu báo đức
thù công – Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi” thể hiện tâm trạng gì của Kiều
Nguyệt Nga trước việc làm của Lục Vân Tiên?
A.
Băn khoăn, áy náy vì chưa biết làm thế nào để trả ơn Lục Vân Tiên.
B.
Thán phục trước việc làm nghĩa hiệp của Lục Vân Tiên.
C.
Coi thường việc làm của Lục Vân Tiên.
D.
Ngưỡng mộ tài năng của Lục Vân Tiên.
Câu 5. Qua lời lẽ của Kiều Nguyệt Nga, em
thấy nàng là con người như thế nào?
A.
Khuê các, nhút nhát, thuỳ mị, nết na và có học thức, ân tình thuỷ chung.
B.
Khuê các, nết na và có học thức, ân tình thuỷ chung, tài sắc vẹn toàn.
C.
Khuê các, thuỳ mị , nết na và có học thức, ân tình thuỷ chung.
D.
Khuê các, thuỳ mị , nết na và có học thức, và rất nhạy cảm.
Câu 6. Ý nào nói đúng nhất bản chất con người
của Lục Vân Tiên trong lời nói và thái độ của chàng với Kiều Nguyệt Nga?
A.
Vì nghĩa lớn, không màng danh lợi
B. Từ
tâm, nhân hậu
C.
Chính trực, hào hiệp
D. Tất
cả đều đúng
Câu 7. Ngôn ngữ của Truyện Lục Vân Tiên có
đặc điểm gì?
A. Mộc
mạc, giản dị.
B.
Biến đổi rất linh hoạt.
C.
Ngôn ngữ trau chuốt
D. Đậm
màu sắc Nam Bộ.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hãy tìm những từ ngữ miêu tả
hành động, lời nói của Lục Vân Tiên? Em có suy nghĩ gì về hành động, lời nói của
Lục Vân Tiên lúc này?
Câu 9. Qua hành động đánh cướp và cách
cư xử với Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên nổi bật với những phẩm chất nào?
Câu 10. Khi Kiều Nguyệt Nga định ra đáp lễ
trả ơn, Vân Tiên nói gì? Điều đó cho thấy Vân Tiên là người như thế nào? Quan
niệm sống của Vân Tiên là gì? Viết đoạn văn khoảng 10 câu chia sẻ về quan niệm
sống đó.
II. VIẾT (4.0 điểm)
Quan
niệm về người anh hùng của Lục Vân Tiên cũng như lí tưởng về người anh hùng của
Nguyễn Đình Chiểu được thể hiện qua câu thơ nào? Hãy viết bài văn nghị luận khoảng
2/3 trang giấy bàn về quan niệm người anh hùng được đặt ra trong tác phẩm
ĐÁP ÁN
|
Phần |
Câu |
Nội dung |
Điểm |
|
I |
|
ĐỌC HIỂU |
6.0 |
|
|
1 |
C |
0.5 |
|
2 |
D |
0.5 |
|
|
3 |
A |
0.5 |
|
|
4 |
A |
0.5 |
|
|
5 |
C |
0.5 |
|
|
6 |
D |
0.5 |
|
|
7 |
D |
0.5 |
|
|
8 |
Những
động tác của Vân Tiên đều rất dứt khoát, nhanh nhẹn “tả đột hữu xung”, và những
hành động anh hùng này được nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu so sánh với hình ảnh
người anh hùng Triệu Tử khi phá vòng Đương Dang. Trước sức mạnh của Lục Vân
Tiên thì băng cướp bị đánh tan “Lâu la bốn phía vỡ tan”, chúng hoảng loạn bỏ
lại gươm giáo mà tìm đường thoát thân. Và cầm đầu của băng đản này là Phong
Lai thì bị Tiên cho một gậy “thác rày thân vong”. Đây là sự trừng phạt thích
đáng cho những kẻ lấy việc hại người làm niềm vui, làm mục đích kiếm sống. |
0.5 |
|
|
9 |
Qua
hành động đánh cướp và cách cư xử với
Kiều Nguyệt Nga, hình ảnh Vân Tiên là Hình ảnh một người anh hùng hảo hán, có
khí phách, trượng nghĩa, thượng võ, bênh vực kẻ yếu, trừ gian diệt ác cho
nhân dân. Lục Vân Tiên không chỉ là một người có học thức mà còn là một người
hào hiệp, trượng nghĩa. Đối với Vân Tiên, chàng coi việc nhân nghĩa trên đời
là điều tất yếu, nếu làm ơn mà vì được đền đáp, trông ngóng đến việc trả ơn
thì đó không còn là người anh hùng. |
1.0 |
|
|
10 |
Khi
Kiều Nguyệt Nga định ra đáp lễ trả ơn, Vân Tiên đã nói "làm ơn há dễ
trông người trả ơn" đã từ chối lời yêu cầu của Kiều Nguyệt Nga, và một
lí do nữa được chàng đưa ra đó chính là sự khác biệt về thân phận, giới tính.
Trong quan niệm phong kiến xưa thì "nam nữ thụ thụ bất thân", vì vậy
nên Lục Vân Tiên không muốn cuộc gặp gỡ này ảnh hưởng đến tiết hạnh của Nguyệt
Nga. Qua đây ta thấy được Vân Tiên là một con người sống chuẩn mực đối với những
lễ nghĩa của phong kiến và là người biết quan tâm đến người khác. |
1.0 |
|
|
II |
|
VIẾT |
4.0 |
|
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận phân tích một vấn đề xã hội được
gợi dẫn từ văn bản văn học |
0.25 |
|
|
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị
luận Quan
niệm về lí tưởng người anh hùng |
0.5 |
|
|
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận
thành các luận điểm HS
có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được tác giả, tác phẩm;
chỉ ra được vấn đề đặt ra trong tác phẩm, phân tích vấn đề đó Sau đây là một hướng gợi ý: - Giới thiệu về tác giả và tác phẩm: +
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đổ Chiểu, sinh tại quê mẹ &
làng Tân Thới, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh) ; quê cha ở xã
Bổ Điển, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi
(1843), 6 năm sau (1849), ông bị mù. Không đầu hàng số phận, ông về Gia Định
dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kì,
Nguyễn Đình Chiểu tích cực tham gia phong trào kháng chiến, cùng các lãnh tụ
nghĩa quân bàn bạc việc đánh giặc và sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần chiến
đấu của nhân dân. Lúc cả Nam Kì đã rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri
(Bến Tre), nêu cao tinh thần bất khuất trước kẻ thù, giữ trọn lòng trung
thành với Tổ quốc, với nhân dân cho đến lúc mất. +
Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ lớn của dân tộc. Ông đã để lại nhiều áng văn
chương có giá trị nhằm truyền bá đạo lí làm người như Truyện Lục Vân Tiên,
Dương Từ - Hà Mậu, cổ vũ lòng yêu nước, ý chí cứu nước như Chạy giặc, Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc, Thơ điếu Trương Định… và truyện thơ dài Ngư Tiều y thuật
vấn đáp. - Nêu ý kiến được gợi ra từ tác phẩm: Quan niệm về người anh hùng của
Nguyễn Đình Chiểu thể hiện qua hai câu thơ: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi Làm
người thế ấy cũng phi anh hùng” Nội
dung của câu thơ là: Thấy việc nghĩa mà không làm thì không phải là anh hùng.
Qua đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” ta nhận thấy Vân Tiên thấy
Nguyệt Nga bị nạn đã khẩn trương mau lẹ đánh tan bọn cướp. Và chàng đã đánh
chúng bằng sự quả cảm giải nguy cho Kiều Nguyệt Nga. Đến khi Nguyệt Nga tỏ ý
muốn được trả ơn thì chàng lại khẳng khái từ chối, đến một cái lạy của Nguyệt
Nga, Vân Tiên cũng không nhận. Rõ ràng Vân Tiên đã xả thân vì nghĩa, không
chút so đo tính toán. Từ hành động đó của Vân Tiên, ta hiểu được quan niệm
anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu: người anh hùng phải là người có tài trí phi
thường để thấy hoạn nạn thì sẵn sàng cứu giúp vô tư đem lại điều tốt đẹp cho
mọi người, người anh hùng phải là người hành động vì nghĩa, vì lẽ phải, vì lẽ
công bằng. - Bàn luận về ý kiến/quan niệm được nêu ra
trong tác phẩm: Người anh hùng phải là người có tài trí phi thường để thấy
hoạn nạn thì sẵn sàng cứu giúp vô tư đem lại điều tốt đẹp cho mọi người, người
anh hùng phải là người hành động vì nghĩa, vì lẽ phải, vì lẽ công bằng. + Giải nghĩa: Người anh hùng + Biểu hiện cụ thể của hành động
trượng nghĩa + Liên hệ bản thân |
2.5 |
|
|
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm
bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. |
0.25 |
|
|
|
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng;
cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. |
0.5 |
|
|
Tổng điểm |
10.0 |
||
