Ngữ văn 11: Kỹ năng viết đoạn văn nghị luận văn học (200 chữ)

Web Publisher User

NHỮNG NGUYÊN TẮC KHI VIẾT ĐOẠN VĂN 200 CHỮ

Trước khi học văn bay bổng, em phải học cách viết đúng luật đã. Sai luật là bị trừ điểm ngay lập tức dù văn có hay đến đâu.

1. "Đoạn văn 200 chữ" hình thù nó ra sao? (Hình thức)

- Tuyệt đối KHÔNG XUỐNG DÒNG: Đây là lỗi tử huyệt của học sinh mất gốc. Đoạn văn nghĩa là từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng, em cứ viết liên tục. Hết dòng thì tự động xuống dòng viết tiếp. Chỉ lùi đầu dòng 1 lần duy nhất ở chữ đầu tiên. Tuyệt đối không được Enter/xuống dòng giữa chừng để chia thành các khổ nhỏ (như thế sẽ bị biến thành bài văn thu nhỏ, mất 0.25 - 0.5 điểm ngay).

- Độ dài bao nhiêu là vừa? Đề ghi khoảng 200 chữ. Tức là em viết khoảng 2/3 trang giấy thi (tầm 15 đến 20 dòng là đẹp nhất). Không viết quá ngắn (dưới 10 dòng) sẽ bị thiếu ý. Không viết quá dài (hơn 1 trang) sẽ bị lan man, mất thời gian của phần khác.

2. Bố cục của một đoạn văn (Khung xương)

Dù không xuống dòng, nhưng trong đầu em phải ngầm chia đoạn văn thành 3 phần rõ ràng:

- Mở đoạn (1-2 câu đầu tiên): Vào thẳng vấn đề. Giới thiệu tên tác giả, tên bài thơ, và chốt ngay "vấn đề nghị luận" đề yêu cầu là gì.

- Thân đoạn (10-15 câu ở giữa): Đây là phần "kiếm cơm". Lấy thơ ra, mổ xẻ từ ngữ, chỉ ra nghệ thuật, và giải thích ý nghĩa.

- Kết đoạn (1-2 câu cuối cùng): Tóm lại vấn đề, khen ngợi tài năng tác giả hoặc rút ra bài học cho bản thân.


PHẦN II: CÔNG THỨC CHO HỌC SINH 

Nếu vào phòng thi em hoảng quá quên hết từ vựng, hãy học thuộc lòng công thức điền vào chỗ trống này.

1. Công thức Mở đoạn (Học thuộc lòng)

- Mẫu 1 (An toàn tuyệt đối): "Qua đoạn trích [Tên bài thơ] của nhà thơ [Tên tác giả], người đọc đặc biệt ấn tượng sâu sắc với [Bê nguyên vấn đề nghị luận trong đề bài vào đây]."

- Ví dụ áp dụng: "Qua đoạn trích 'Hát về hòn đảo chìm' của nhà thơ Trần Đăng Khoa, người đọc đặc biệt ấn tượng sâu sắc với vẻ đẹp hình tượng người lính biển." (Vậy là có điểm phần mở!)

2. Công thức Thân đoạn (Cách "chế biến" thơ)

Em không cần phải là nhà văn để phân tích thơ. Hãy làm theo 4 bước lập trình sẵn sau đây:

- Bước 1: Gọi tên ý chính. (Ví dụ: Đầu tiên, người lính hiện lên với sự dũng cảm...)

- Bước 2: Trích dẫn thơ để chứng minh. (Ví dụ: Điều đó được thể hiện rõ qua câu thơ: "Chúng tôi coi thường gian nan"...)

- Bước 3: "Bắt" từ khóa và nghệ thuật. Đừng chép lại cả câu thơ mà phân tích. Hãy nhặt ra 1-2 từ đắt giá nhất (động từ mạnh, tính từ, từ láy) hoặc 1 biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ).

- Bước 4: Suy ra ý nghĩa. Từ những từ ngữ đó, nó cho thấy điều gì về tính cách nhân vật hoặc tư tưởng của tác giả?

- Lặp lại Bước 1,2,3,4 cho đến khi phân tích hết các câu thơ quan trọng.

3. Công thức Kết đoạn (Học thuộc lòng)

- Mẫu: "Tóm lại, bằng thể thơ [tự do/lục bát...], ngôn ngữ [bình dị/hào hùng...] và các biện pháp nghệ thuật đặc sắc, đoạn thơ đã khắc họa thành công [Nhắc lại vấn đề nghị luận]. Từ đó, em tự nhận thấy bản thân cần có trách nhiệm [Yêu nước/biết ơn/cống hiến...]."


PHẦN III: THỰC CHIẾN 

Đề bài: Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về vẻ đẹp hình tượng người lính biển qua đoạn thơ sau:

"Chúng tôi coi thường gian nan

Dù đồng đội tôi có người ngã trước miệng cá mập

Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn

Tuổi trẻ là tuổi làm việc lớn

Ngày mai hòn đảo sẽ nhô lên

Đất nước Việt Nam, một lần nữa nối liền

Những quần đảo long lanh như ngọc dát"

(Trích "Hát về hòn đảo chìm" - Trần Đăng Khoa)

BƯỚC 1: GIẢI MÃ ĐỀ VÀ NHẶT TỪ KHÓA (Phân tích nháp)

Em cầm bút đỏ lên, gạch chân ngay vào đề những thứ sau:

- Vấn đề nghị luận: vẻ đẹp hình tượng người lính biển. (Nhiệm vụ của em là đọc đoạn thơ và trả lời câu hỏi: Người lính biển ở đây đẹp như thế nào? Đẹp trai hay đẹp về tâm hồn? Dũng cảm hay nhát gan?).

- Đọc kỹ từng câu thơ và tìm ý (Dành cho người mất gốc):

+ Câu 1: "Chúng tôi coi thường gian nan" -> Quá rõ ràng. Từ khóa "coi thường". Vẻ đẹp đầu tiên chính là sự dũng cảm, hiên ngang, bản lĩnh, không sợ khổ.

+ Câu 2 & 3: "ngã trước miệng cá mập" / "vùi dưới cơn bão dữ tợn" -> Từ khóa "ngã", "miệng cá mập", "vùi", "bão dữ tợn". Đây là hiện thực khốc liệt. Họ biết rõ đi biển là có thể bỏ mạng vì thú dữ, vì thiên tai, nhưng họ vẫn đi. Sự hi sinh của họ quá bi tráng.

+ Câu 4: "Tuổi trẻ là tuổi làm việc lớn" -> Ý chí, lí tưởng sống cao cả. Họ không chọn việc nhẹ nhàng, họ chọn gánh vác việc quốc gia đại sự.

+ Câu 5, 6, 7: "nhớ tên" / "nổi lên" / "quần đảo long lanh như ngọc dát" -> Biện pháp nghệ thuật so sánh "như ngọc dát". Sự hi sinh của các anh không vô ích. Máu xương của các anh đã hóa thành vẻ đẹp thiêng liêng, vô giá (ngọc) của biển đảo Việt Nam.

BƯỚC 2: RÚT KINH NGHIỆM TỪ NHỮNG LỖI HAY GẶP

Rất nhiều lỗi đã được Thầy/cô TTKT tổng hợp cực kỳ đắt giá, tuy nhiên hay gặp nhất là hiện tượng: "Thiếu nghệ thuật (thể thơ, giọng điệu). Nên gộp Biện Pháp Nghệ Thuật (BPNT) về cuối".

- Chỉ lo kể lể nội dung (người lính dũng cảm ra sao) mà quên mất không nói đến vỏ bọc bên ngoài. Văn nghị luận là phải phân tích CẢ NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT.

- Cách sửa theo ý cô: Ở gần cuối đoạn văn, trước khi kết luận, em phải có 1-2 câu chốt lại về nghệ thuật. Ở đây, thể thơ là tự do, giọng điệu thì hào hùng, bi tráng. Em phải gom biện pháp so sánh vào câu này.

BƯỚC 3: DỰNG KHUNG DÀN Ý (Đừng bao giờ viết luôn mà không có khung)

- Mở đoạn: Dùng công thức ở trên. Giới thiệu Trần Đăng Khoa, bài Hát về hòn đảo chìm, hình tượng người lính dũng cảm, hi sinh.

- Thân đoạn:

+ Ý 1: Vẻ đẹp bản lĩnh, can trường, dám đối mặt với hiểm nguy khốc liệt (Phân tích 3 câu đầu).

+ Ý 2: Vẻ đẹp của lí tưởng cống hiến, ý thức trách nhiệm với Tổ quốc (Phân tích câu 4, 5).

+ Ý 3: Sự hi sinh cao cả hóa thân vào hình hài đất nước (Phân tích 2 câu cuối).

+ Ý 4 (Sửa lỗi cho em): Đánh giá nghệ thuật (Thể thơ tự do, giọng điệu, biện pháp so sánh - làm theo đúng lời cô dặn).

- Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị hình tượng. Bày tỏ lòng biết ơn.


PHẦN IV: CÁC ĐOẠN VĂN MẪU HOÀN CHỈNH TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Dưới đây là các đoạn văn mẫu. Em hãy đọc thật kỹ. Lưu ý: TRONG BÀI THI CHỈ VIẾT LÙI ĐẦU DÒNG 1 LẦN DƯỚI DẠNG 1 KHỐI CHỮ DUY NHẤT. Dưới đây thầy/cô ngắt đoạn ra để em dễ nhìn cấu trúc, nhưng khi chép vào vở thi, TẤT CẢ PHẢI LIÊN TỤC KHÔNG ĐƯỢC XUỐNG DÒNG nhé!

MẪU SỐ 1: BẢN DÀNH CHO HỌC SINH MẤT GỐC (Dễ hiểu, dễ thuộc, an toàn lấy 1.5/2 điểm)

Qua đoạn thơ trích trong tác phẩm "Hát về hòn đảo chìm" của nhà thơ Trần Đăng Khoa, người đọc đặc biệt ấn tượng sâu sắc với vẻ đẹp hình tượng những người lính biển kiên cường và vĩ đại. Trước hết, vẻ đẹp của họ hiện lên qua bản lĩnh dũng cảm, hiên ngang đối mặt với muôn vàn thử thách. Câu thơ mở đầu "Chúng tôi coi thường gian nan" vang lên như một lời tuyên thệ mạnh mẽ, dứt khoát. Người lính thừa hiểu những hiểm nguy khốc liệt đang chờ đợi mình ngoài biển khơi, đó là sự đánh đổi bằng cả tính mạng khi "đồng đội tôi có người ngã trước miệng cá mập", hay bị thiên nhiên vùi dập "dưới cơn bão dữ tợn". Mặc cho ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh, họ vẫn không hề chùn bước. Bên cạnh đó, vẻ đẹp của người lính còn ngời sáng ở lí tưởng sống cao đẹp và sự hi sinh thầm lặng. Tuổi thanh xuân rực rỡ nhất không dành cho sự hưởng thụ mà là "tuổi làm việc lớn", mang trên vai trọng trách bảo vệ chủ quyền quốc gia. Sự hi sinh xương máu của các anh đã đổi lấy sự bình yên, làm cho đất nước Việt Nam "một lần nữa nổi lên". Máu xương ấy kết tinh lại, làm cho "Những quần đảo long lanh như ngọc dát". Qua đó, ta thấy thành công của đoạn thơ không chỉ ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật. Bằng thể thơ tự do phóng khoáng, giọng điệu bi tráng, hào hùng cùng biện pháp tu từ so sánh "như ngọc dát" đặc sắc, Trần Đăng Khoa đã tạc nên một bức tượng đài bất tử. Tóm lại, đoạn thơ đã giúp em cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp oai hùng của người lính hải quân, từ đó tự nhắc nhở bản thân phải biết ơn và nỗ lực học tập để góp phần bảo vệ, xây dựng Tổ quốc.

MẪU SỐ 2: BẢN NÂNG CAO CHO HỌC SINH MUỐN LẤY ĐIỂM TỐI ĐA (Từ ngữ phong phú, lập luận sâu sắc - Lấy 1.75 đến 2/2 điểm)

Nhà thơ Trần Đăng Khoa qua thi phẩm "Hát về hòn đảo chìm" đã dùng những nốt nhạc bi tráng nhất để tạc nên bức tượng đài sừng sững về vẻ đẹp hình tượng người lính biển Việt Nam. Nổi bật trên nền sóng gió đại dương là khí phách hiên ngang, lẫm liệt đến độ phi thường. Động từ "coi thường" trong câu thơ mở đầu "Chúng tôi coi thường gian nan" không phải là sự ngông cuồng vô tri, mà là thái độ thản nhiên chấp nhận hiện thực khốc liệt. Họ bước ra nơi đầu sóng ngọn gió, thấu hiểu tận cùng cái giá của việc bám biển là có thể "ngã trước miệng cá mập" hay "bị vùi dưới cơn bão dữ tợn". Đứng trước cái chết, họ không run sợ mà lấy đó làm động lực, bởi trong họ rực cháy một lí tưởng cống hiến vĩ đại: "Tuổi trẻ là tuổi làm việc lớn". Vẻ đẹp của người lính biển lúc này thăng hoa thành một triết lý sống cao cả. Họ chấp nhận hi sinh thân mình để "Ngày mai hòn đảo sẽ nhô lên". Thể thơ tự do kết hợp cùng giọng thơ trầm hùng, dứt khoát đã nhịp bước cùng các biện pháp nghệ thuật đắc địa để đẩy cảm xúc lên cao trào. Đặc biệt, biện pháp tu từ so sánh qua hình ảnh "quần đảo long lanh như ngọc dát" được đặt ở cuối đoạn thơ mang sức nặng ngàn cân. "Ngọc dát" ấy không tự nhiên mà có, nó được đánh đổi bằng máu đỏ, xương trắng của những người lính đã ngã xuống để "Đất nước Việt Nam, một lần nữa nổi lên". Khép lại những vần thơ đầy ám ảnh, hình tượng người lính biển mãi mãi là biểu tượng chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khơi dậy trong trái tim mỗi thanh niên hôm nay ngọn lửa của lòng yêu nước và ý thức bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

إرسال تعليق

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.