Phần Kiến thức
I. Đọc hiểu Truyện hiện đại
Nhận biết:
- Ngôi kể/dấu hiệu nhận biết ngôi kể
• Ngôi thứ nhất:
o Dấu hiệu: Người kể xưng "tôi".
o Đặc điểm: Trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến câu chuyện. Kể lại những gì mình thấy, nghe, cảm nhận.
• Ngôi thứ ba:
o Dấu hiệu: Người kể giấu mình (không xưng tên), gọi tên các nhân vật bằng tên riêng của họ.
o Đặc điểm: Người kể đứng ngoài quan sát, biết hết mọi việc, mọi tâm tư tình cảm (người kể chuyện toàn tri).
- Điểm nhìn
• Điểm nhìn bên ngoài: Quan sát dáng vẻ, hành động, lời nói của nhân vật (như một người quan sát từ bên ngoài và ghi lại mọi sự việc).
• Điểm nhìn bên trong: Đi sâu vào tâm lý, suy nghĩ, cảm xúc nội tâm của nhân vật.
• Dịch chuyển điểm nhìn: Chuyển từ người kể chuyện sang nhân vật hoặc từ nhân vật này sang nhân vật khác.
- Nhân vật chính
• Nhân vật chính: Là người giữ vai trò quan trọng nhất trong việc diễn biến cốt truyện và thể hiện chủ đề. Xuất hiện nhiều nhất, được miêu tả kỹ nhất.
- Chi tiết trong văn bản
• Chi tiết trong văn bản: Cần chú ý các chi tiết về ngoại hình, cử chỉ, nội tâm, hoặc khung cảnh thiên nhiên có ý nghĩa biểu tượng.
- Biện pháp tu từ
• So sánh, Nhân hóa, Ẩn dụ: Tăng sức gợi hình, gợi cảm.
• Liệt kê: Nhấn mạnh sự phong phú, phức tạp của đối tượng.
• Điệp từ/ngữ/cấu trúc: Nhấn mạnh ý, tạo nhịp điệu.
• Tương phản/Đối lập: Làm nổi bật tính cách hoặc hoàn cảnh.
- Đề tài
• Là phạm vi đời sống được phản ánh (Ví dụ: Đề tài người nông dân, chiến tranh, gia đình, tình yêu, thân phận người phụ nữ...).
Thông hiểu:
- Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ;
1. Gọi tên: Biện pháp tu từ gì?
2. Chỉ ra: Ở từ ngữ/câu văn nào?
3. Nêu tác dụng:
o Về hình thức: Gợi hình ảnh sinh động, âm thanh, nhịp điệu...
o Về nội dung: Nhấn mạnh đặc điểm gì của đối tượng? Thể hiện thái độ/tình cảm gì của tác giả?
- Nhận xét về tình cảm/cảm xúc của tác giả đối với nhân vật;
• Tìm các từ ngữ biểu cảm, giọng điệu trần thuật (mỉa mai, xót xa, trân trọng, ca ngợi...).
• Câu mẫu: Qua việc miêu tả [nhân vật/sự việc], tác giả thể hiện niềm cảm thương sâu sắc trước số phận.../ thái độ phê phán gay gắt đối với...
- Tác dụng của sự thay đổi điểm nhìn;
• Giúp câu chuyện được nhìn nhận đa chiều, khách quan hơn.
• Khám phá sâu sắc thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật.
• Tránh sự đơn điệu trong lối kể, tăng gợi hình gợi cảm.
- Chủ đề chính/phụ;
• Là vấn đề cơ bản, ý nghĩa trung tâm mà văn bản đặt ra.
| Tiêu chí | Chủ đề chính | Chủ đề phụ |
|---|---|---|
| Phạm vi | Bao trùm toàn bộ câu chuyện, từ đầu đến cuối. | Chỉ xuất hiện ở một vài đoạn, một vài tình huống hoặc gắn với nhân vật phụ. |
| Nhân vật | Gắn liền trực tiếp với số phận và hành động của Nhân vật chính. | Thường gắn với nhân vật phụ hoặc một khía cạnh nhỏ của nhân vật chính. |
| Tần suất | Các từ khóa, hình ảnh liên quan xuất hiện lặp đi lặp lại dày đặc. | Xuất hiện ít hơn, thỉnh thoảng mới được nhắc đến. |
| Kết thúc | Kết thúc truyện thường giải quyết hoặc khép lại vấn đề của chủ đề chính. | Có thể được giải quyết hoặc không, đôi khi chỉ làm nền. |
| Ví dụ câu hỏi | "Văn bản này nói về điều gì?" | "Bên cạnh vấn đề A, tác phẩm còn đề cập đến vấn đề gì?" |
• Cách tìm: Từ đề tài -> Tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đề tài đó?
- Nhận xét về tình huống truyện/cách kết thúc truyện;
• Tình huống truyện: Là hoàn cảnh éo le, nghịch lý, hoặc bất ngờ giúp nhân vật bộc lộ tính cách. (Nhận xét: độc đáo, kịch tính, bất ngờ, giàu ý nghĩa nhân văn...).
• Kết thúc truyện:
o Kết thúc mở: Gợi suy ngẫm, để độc giả tự viết tiếp.
o Kết thúc bất ngờ: Tạo ấn tượng mạnh, làm nổi bật chủ đề.
- Ý nghĩa của chi tiết nghệ thuật;
• Lớp nghĩa 1: Đối với việc khắc họa nhân vật
o Chi tiết đó bộc lộ tính cách, phẩm chất gì của nhân vật?
o Phản ánh thế giới nội tâm (niềm vui, nỗi buồn, sự day dứt...) của nhân vật như thế nào?
o Góp phần thể hiện số phận, hoàn cảnh của nhân vật.
• Lớp nghĩa 2: Đối với cốt truyện (Kết cấu)
o Thúc đẩy cốt truyện: Có làm câu chuyện chuyển sang hướng khác không? Có tạo ra nút thắt hay mở nút không?
o Liên kết: Có tác dụng kết nối các phần của văn bản lại với nhau không? (Ví dụ: chi tiết xuất hiện ở đầu và kết thúc để tạo sự vòng tròn/ám ảnh).
• Lớp nghĩa 3: Đối với chủ đề, tư tưởng (Quan trọng nhất)
o Gửi gắm thông điệp, triết lý gì của tác giả về cuộc đời, con người?
o Thể hiện thái độ, tình cảm gì của nhà văn (ngợi ca, trân trọng, phê phán, xót thương...)?
o Mang ý nghĩa biểu tượng gì? (Ví dụ: "Ánh sáng" thường biểu tượng cho hy vọng, tri thức...).
- Phân tích đặc điểm của ngôn ngữ nói/viết;
• Ngôn ngữ nói (Khẩu ngữ): Dùng trong đối thoại, từ ngữ địa phương, tiếng lóng, câu cảm thán, câu cụt -> Tác dụng: Tạo sự chân thực, sinh động, khắc họa cá tính nhân vật và màu sắc địa phương.
• Ngôn ngữ viết: Chuẩn mực, trau chuốt, giàu hình ảnh -> Tác dụng: Diễn tả tinh tế, trang trọng.
Vận dụng:
- Điều tâm đắc nhất sau khi đọc truyện là gì? Vì sao?
• Chọn 1 thông điệp/bài học cụ thể (về tình yêu thương, nghị lực, cách đối nhân xử thế...).
• Lý giải: Vì sao nó có ý nghĩa với bạn? (Giúp thay đổi nhận thức, hành động...).
- So sánh, kết nối với VB cùng thể loại để chỉ ra điểm giống/khác nhau;
• Giống nhau: Cùng đề tài (ví dụ: cùng viết về người lính), cùng thể loại (truyện ngắn hiện đại), cùng cảm hứng nhân đạo.
• Khác nhau:
o Phong cách sáng tác của mỗi tác giả.
o Cách xây dựng nhân vật, tình huống truyện.
o Giọng điệu trần thuật.
- Bày tỏ quan điểm về một vấn đề đặt ra trong văn bản;
1. Nêu vấn đề: Vấn đề xã hội được rút ra từ tác phẩm là gì?
2. Quan điểm: Đồng tình hay không đồng tình?
3. Lập luận: Vì sao? (Đưa ra lý lẽ và dẫn chứng thực tế).
4. Liên hệ: Rút ra bài học cho bản thân.
II. Làm văn
Viết đoạn nghị luận văn học (200 chữ) về một vấn đề có liên quan đến ngữ liệu đọc hiểu
- Phân tích tính cách nhân vật
- Phân tích tâm lí nhân vật
* Viết mở đoạn: dẫn dắt giới thiệu tác phẩm …của tác giả…. đã xây dựng thành công nhân vật ……để lại ấn tượng sâu sắc
* Viết thân đoạn:
+ Nhận xét hoàn cảnh, số phận, ngoại hình, tính cách, phẩm chất, tâm lí,… của nhân vật (tùy theo đề)
+ Phân tích nhân vật thông qua ngôn ngữ kể chuyện, qua lời nói, hành động, tâm trạng,… của nhân vật trong mối quan hệ với nhân vật khác (dùng dẫn chứng làm rõ)
+ Nghệ thuật khắc họa nhân vật (khắc họa qua những nét nghệ thuật đặc sắc: tình huống, ngôi kể, điểm nhìn; qua ngoại hình, hành động, tâm trạng, …; ngôn ngữ, giọng điệu)
* Viết kết đoạn: Khẳng định lại nhân vật ( Nhân vật góp phần quan trọng làm nổi bật chủ đề tác phẩm; thể hiện tài năng của tác giả; rút ra thông điệp,….)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
Mở bài:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề đặt ra trong tác phẩm, nêu ý kiến cá nhân về vấn đề.
Thân bài:
- Bàn về vấn đề trong tác phẩm:
+ Biểu hiện:
+ Ý nghĩa:
- Bàn về vấn đề trong đời sống:
+ Giải thích:
+ Bàn luận:
▪ Biểu hiện: (phân tích qua các biểu hiện, dẫn chứng cụ thể)
▪ Ý nghĩa:
▪ Mở rộng, nêu phản đề:
+ Bài học:
Kết bài:
Khẳng định lại vấn đề, lời nhắn gửi, thông điệp, bài học,….
Phần Đề thi
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 111
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Năm ấy, lũ chim không về làm tổ ở khu vườn.
Bà ngoại tôi ngồi ở bậc thềm, nhìn vào khoảng không hun hút trước mắt. Trời không mưa, không nắng, xám xịt một màu chì. Tôi không biết bà tôi nghĩ gì, nhưng chắc chắn là đang nghĩ. Dáng ngồi như thế, tấm lưng còn tựa vào cửa cũ, nửa như lơ đễnh, nửa như coi cánh cửa ấy là một điểm tựa. Đúng rồi, cái cánh cửa là điểm tựa của bà. Bà ngồi như thế lâu rồi, từ ngày tháng năm này qua ngày tháng năm khác. Bà tựa vào tiếng răng của lũ mọt, hình như là hoài nhớ về những ngày đã qua nhiều hơn là nghĩ đến ngày mai.
Tôi ôm con mèo cái già có bộ lông màu xám tro vào lòng, vuốt ve nó. Nó chừng như cũng đã mệt mỏi vì quãng đời có tuổi của mình mà không chờn vờn đôi bàn tay thô kệch của tôi, bộ ria mép chỉ hơi khẽ động đậy. Nó lim dim đôi mắt. Tôi thấy thái độ của nó giống bà nội tôi quá. So với lũ mèo, nó cũng có tuổi, nó cũng đã là một con mèo già. Mà già rồi thì hay mệt mỏi. Chắc lúc này ở trong tay tôi, nó cũng đang suy nghĩ, suy nghĩ theo kiểu loài mèo. Nó nghĩ gì thì chỉ có trời mới biết được (có khi loài mèo biết?). Nhưng tôi thầm nghĩ, biết đâu nó cũng như bà tôi, tức là đang hoài nhớ về cái thời đã qua thì sao?
Tuổi thơ tôi là một chuỗi những ngày tháng không tên. Cứ lặng lờ lặng lờ, chẳng có gì sôi nổi. Tôi ở với bà từ ngày còn nhỏ. Ngày xưa dì Mân cũng ở với bà, nhưng dì Mân vì lí do nào đó tác động đến mà sinh mất trí, bỏ nhà đi lâu rồi. Đi, rồi từ đấy không về. Và cũng chẳng có tin tức gì, không biết còn sống hay đã chết. Thỉnh thoảng, tôi ngây ngô nhắc đến dì như một lẽ bình thường, bà tôi lại chảy nước mắt. Ông Hân, hàng xóm nhà tôi bảo: “Bà cháu đã mất hai anh con cả trong cuộc chiến. Mất cả mẹ cháu, bây giờ lại mất cô con gái ngay giữa thời bình...” Ông Hân nói thế rồi đi về nhà.
[Lược trích: “Tôi” nhớ đến người mẹ ruột đã bỏ con lại mà đi biệt. Từ ấy, “tôi” lớn lên cùng bà. Hai bà cháu ít nói ít cười. Mấy hôm nay con mèo cái có bộ lông màu xám tro bỏ đi đâu, không thấy về nhà. Một thời gian sau, con mèo trở về, người nó to hơn và có vẻ nặng nề. Có tin của dì Mân ở một tỉnh nào đấy xa xa, ông Hân giúp bà đi tìm dì và mang về cho “tôi” con búp bê tóc vàng dì Mân gửi.]
Lần đầu tiên, tôi thấy bà tôi cười. Ông Hân phá bụi mây ngăn giữa hai nhà, tôi chạy loăng quăng như con loi choi mà ngồi chơi với em bé búp bê của mình: “Cháu sẽ gọi là ông ngoại”.
Ông Hân nghỉ tay vào thềm ngồi hút thuốc, bà tôi ngồi bên cạnh rót nước chè cho ông. Tôi nghĩ, ông Hân như cái cột lắp cánh cửa sắp rơi ra của nhà tôi, là chỗ cho bà tôi dựa.
Năm ấy tôi mười tuổi. Năm ấy con mèo cái già có bộ lông màu xám tro đẻ được ba con. Hai con khoang và một con tam thể.
Năm ấy bầy chim lại tìm về làm tổ, hót vang ở khu vườn.
(Trích Bầy chim trở về, Phạm Sông Hồng)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Nêu dấu hiệu xác định ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2: Chỉ ra những điểm tựa của nhân vật người bà trong đoạn trích phần đọc hiểu.
Câu 3: Phân tích tác dụng của việc sử dụng điểm nhìn chính trong đoạn trích trên.
Câu 4: Cảm nhận của anh/chị về những chi tiết ở cuối văn bản: Năm ấy tôi mười tuổi. Năm ấy con mèo cái già có bộ lông màu xám tro đẻ được ba con. Hai con khoang và một con tam thể. Năm ấy bầy chim lại tìm về làm tổ, hót vang ở khu vườn.
Câu 5: Từ nội dung đoạn trích, hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất với anh/chị. Lí giải.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về thời khắc giao mùa trong đoạn trích sau:
Cánh chim báo sang mùa
Nắng hoai hoai cuối hạ
Màu mây non lá mạ
Gió trên cành hiu hiu
Chừng như thu ngấp nghé
Trong hương cốm đâu đây
Khói lam chiều rất nhẹ
Sông vừa vơi vừa đầy
(Trích Sang mùa, Tạ Hữu Yên, in trong Thơ Việt Nam thế kỉ XX, NXB Giáo dục, 2005)
Câu 2. (4,0 điểm)
Có thể chấp nhận thất bại nhưng nhất định không được chấp nhận buông xuôi.
Từ gợi dẫn trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về cách ứng xử đúng đắn khi đối diện với thất bại của những người trẻ tuổi.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC HIỂU | 4.0 | |
| 1 |
- Người kể chuyện xưng “tôi” là dấu hiệu của ngôi kể thứ nhất. Hướng dẫn chấm: Học sinh trả lời đúng nội dung đạt 0,5 điểm. |
0.5 | |
| 2 |
- Những điểm tựa của nhân vật người bà trong đoạn trích trên là: + Cánh cửa + Ông Hân Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời được 01 ý: 0,25 điểm. |
0.5 | |
| 3 |
- Điểm nhìn chính: điểm nhìn của nhân vật “tôi” – người cháu trong câu chuyện. - Tác dụng: + Giúp cho câu chuyện về cảnh ngộ của hai bà cháu thêm chân thực khách quan. + Giúp người đọc cũng dễ dàng hình dung những suy nghĩ, cảm xúc của đứa cháu trước những đổi thay trong cuộc sống của hai bà cháu. + Việc người kể chuyện là một đứa trẻ mới 10 tuổi khiến câu chuyện tuy buồn nhưng không u ám, giọng kể đều đặn, không bi lụy. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng đáp án đạt 1,0 điểm. - Học sinh trả lời được điểm nhìn chính đạt 0,25 điểm; mỗi tác dụng đạt 0,25 điểm. - Học sinh diễn đạt bằng các từ ngữ tương đương đạt điểm tối đa. |
1.0 | |
| 4 |
Cảm nhận về những chi tiết ở cuối văn bản: - Những chi tiết kết thúc tác phẩm nhưng có vai trò đặc biệt, ý nghĩa quan trọng đối với mạch phát triển của văn bản. - Đây là những chi tiết nói về sự sinh sôi, đoàn tụ, nảy nở, phát triển phù hợp với tư tưởng “cuộc sống rồi sẽ tốt đẹp hơn” của văn bản. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng nội dung đạt 1,0 điểm; mỗi ý đạt 0,5 điểm. - Học sinh diễn đạt bằng các từ ngữ tương đương đạt điểm tối đa. |
1.0 | |
| 5 |
HS rút ra được thông điệp ý nghĩa nhất với bản thân và lí giải hợp lí. Có thể rút ra thông điệp sau: tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống; yêu thương, quý trọng bậc ông bà, cha mẹ... Hướng dẫn chấm: - Học sinh rút được thông điệp có ý nghĩa đối với bản thân đạt 0,5 điểm. - Học sinh lí giải thuyết phục, phù hợp đạt 0,5 điểm. |
1.0 | |
| II | VIẾT | 6.0 | |
| 1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về thời khắc giao mùa trong đoạn trích Sang mùa, Tạ Hữu Yên. |
2.0 | |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Bảo đảm đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Thời khắc giao mùa trong đoạn trích đã cho. |
0.25 | ||
|
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau: - Thời khắc giao mùa được đánh dấu bằng rất nhiều tín hiệu chuẩn bị sang thu như: chim bay, nắng hoai hoai, mây non, gió hiu hiu, mùi hương cốm… Tất cả làm bức tranh thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp thơ mộng rất riêng biệt, nửa như chạm ngõ mùa thu, nửa như luyến tiếc mùa hạ. - Thời khắc giao mùa được thể hiện bằng thể thơ năm với cách ngắt nhịp linh hoạt (2/3, 3/2); những từ ngữ chính xác, tinh tế; những hình ảnh đẹp đẽ, gợi cảm, các biện pháp tu từ nhân hóa, tương phản… |
1.0 | ||
|
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0.25 | ||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,25 điểm. |
0.25 | ||
| 2 |
Có thể chấp nhận thất bại nhưng nhất định không được chấp nhận buông xuôi. Từ gợi dẫn trên, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về cách ứng xử đúng đắn khi đối diện với thất bại của những người trẻ tuổi. |
4.0 | |
|
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cách ứng xử đúng đắn khi đối diện với thất bại của những người trẻ tuổi. |
0.5 | ||
|
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Thân bài: - Giải thích: Thất bại là trạng thái không đạt được kết quả như mình mong muốn. Buông xuôi là nản chí, không muốn cố gắng. Nhận định trên khẳng định châm ngôn sống cuộc đời có thể gặp thất bại nhưng nhất định không được nản chí, bỏ cuộc. - Bàn luận: + Người trẻ cần có nhận thức rõ rằng thất bại là một phần trong cuộc sống và nên chọn những cách ứng xử đúng đắn. + Biết đứng dậy sau mỗi thất bại, vấp ngã; quyết tâm, nỗ lực vượt qua; biết rút ra những bài học kinh nghiệm; biết lập kế hoạch cho hành trình mới sau mỗi thất bại… + Biết chia sẻ những cảm xúc tiêu cực với người khác, cân bằng cảm xúc cá nhân sau mỗi lần thất bại; luôn giữ tinh thần lạc quan, nhìn nhận vấn đề tích cực để không bị nhấn chìm trong sự bi quan, tiêu cực… - Mở rộng vấn đề, trao đổi với ý kiến trái chiều hoặc ý kiến khác… * Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân đã trình bày và rút ra bài học cho bản thân Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
2.5 | ||
|
d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. |
0.5 | ||
| TỔNG ĐIỂM (I + II) | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 222
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
HÀ NỘI HOA
(Nguyễn Văn Thọ ) (*)
1.
Trên thế gian này, là con người, đâu chẳng yêu hoa!
Nhưng Tết tới thì người Việt Nam mình cái sự yêu, chơi hoa nơi ngựa xe như nước áo quần như nêm, bao giờ chả rộn ràng hơn.
Hà Nội của tôi những năm xa lắc ấy, nếp chơi hoa đào và quất, vẫn để hai loài cây thả sức mà tung tăng đi đến từng nhà. Nhưng cũng tuỳ cảnh, tuỳ người, chọn cho mỗi ai, mỗi gian phòng vui Tết, thưởng hoa, đào to đào nhỏ, đào cắm hay đào cây, Hà Nội Tết Hoa vốn dĩ tuỳ cảnh tuỳ người?!
Nhà tôi cả thẩy bốn lần chuyển nhà trên phố phường; bốn lần là bốn chỉ số phòng khách và phòng ăn hay phòng làm việc khác nhau, để rồi Tết ấy, xuân ấy, định kì đến hẹn, cha tôi tha thẩn ở chợ hoa mà im lặng chọn ra cho mình một dáng, vừa vặn nơi ông dùng hoa làm duyên cho xuân, vui Tết. Có năm hoa đào vươn ra, hai vòng ôm không xuể; đào cắm mà rực rỡ no mắt cả nhà. Lâu quá rồi! Còn lại, hơn ba chục năm trên gác xép của ông chỉ là một cành đào khiêm tốn tới có thể. Sự tàn lụi của thời gian, có thể hẹp đi về kích cỡ, nhưng không thu hẹp tấm lòng hoa với người và, người với hoa. Chắc thế nên hôm nào, tôi cứ khoe mãi câu thơ mồ côi của Nguyễn Duy trước một cành đào thắm nhỏ cao vừa đúng bốn năm gang góc xép của ông: Hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể. Tết mà! Lại năm ấy là đào mua ở hoa rong. Năm nay rét thế, mấy kẻ chợ bán hoa rong còn không? Có bán hoa được không?
Cha tôi thích tất cả các loài đào. Đào thắm ông thường dùng năm lẻ, khi mà ai nam giới sinh ở năm lẻ, đều bị hợp sao tinh chiếu vào làm âm (âm nam). Ông ví như xuân them lửa. xua cái khí lạnh, giữ xuân ấy thêm ấm thêm nồng. Nhưng có lẽ ông yêu nhất, thứ đào phai. Tâm hồn hoạ sĩ của ông rung động nhiều hơn khi rước hoa từ chợ về. Đốt gốc, mang cái cát-tút 105 li, mua ở chợ trời Ha-le rồi bảo tôi đánh sạch: tự ông cẩn thận chèn cành đào đứng thẳng giữa ống đồng sáng chói. Xuân đầy nụ, chớm hoa khoe cái màu hồng tưởng phai mà chưa khi nào phai trước thời gian! ngắm đi con! Những giọt hoa đọng lại, lấp lánh cơn mưa ông phun bằng cái máy xịt tay vẫn dùng xịt nước hành bảo quản tranh Sơn dầu.
Đào phai loại cánh kép, phơn phớt trước Tết rồi qua Tết, sang xuân mỗi bông tàn, chầm chậm nhả buông từng lớp cánh, dần dần rụng xuống sàn đá lạnh. Và, một hôm bất chợt he hé cái mầm quả xanh, để theo sau Tết, hình thành một trái Đào. Đào phai, từng bông nở chậm, khoe sắc ấm nồng cũng chầm chậm từng lớp, phai dần ở lớp cánh đầu tiên, chứ không nở bừng ra màu đỏ thắm khoảnh nhà, để mà tàn, úa rụng chốc lát, tan nát cả xuống đất một lần. Sự sống của hoa đào phai cánh kép, làm ông gật gù bảo, cái kiếp một bông hoa, một loài cây, dâng hiến cho đời từng lớp, từng lớp, cả mầu lẫn cánh… để cuối cùng hiện ra mầm sống mới, tựa hệt như vòng luân hồi của kiếp con người.
2.
Trước Tết vài ngày, mẹ tôi cũng chọn chợ Đồng Xuân để sắm hàng Tết. Rồi tới cận ba mươi mới ra đầu chợ Hôm mà mua hoa cúng. Người chủ gia đình đàn ông đàn ang, sắm đào thì thôi quất. Người mẹ của chúng tôi lo hoa cho bàn thờ tổ tong. Bà chọn từng cành Huệ rất cẩn thận. Những búp hoa trắng muốt thoang thoảng hương thanh bạch, e ấp dấu mình trong kẽ xanh chỉ đợi hơi hương khói là nhao ra trắng muôn muốt.
Bắt đầu từ chiều ba mươi tới tận hôm hoá vàng, những bông huệ cứ âm thầm nhuộm một thứ hương như vậy loanh quanh bàn thờ. Có thay hoa mới cho lọ lục bình cổ, với các đường gốm ngọc rạn nứt, thì vẫn là những cành huệ, tươi mơn mởn, xanh như trước Tết, để khi nào cũng tinh khiết độc một loài hương. Thay vì lòng thành với tổ tiên đa dạng nữa, bên kia là những đoá hồng vàng hay thắm đỏ. Hoa cúng chọn cẩn trọng. Không cần to lắm, nhưng phải đều đặn công phu.
Mẹ tôi chưa khi nào quên đĩa hoa cho chùa Hai Bà hay chùa Vua gần đó. Thường là tháng ba mới rộ ngâu. Nhưng muốn tìm vẫn có. Nhũng cành ngâu nhỏ, hoa vàng bé xíu, chín thoang thoảng, đặt bên những bông hồng cũng nhỏ, cẩn thận xếp bày lên đĩa “cho hộ vào chiếc làn để mợ sớm mai mồng một ra chùa”. Bông hồng thì nở, bông nhài thì thơm, hoa đại định hình từ lúc mới ra bé xíu, móng rồng cũng vậy, cho tới sói, ngâu, mộc không nhìn rõ trong lớp lá, phải tựa vào hương mới biết là hoa, đều gọi chung là chin. Ngâu vừa chin con ơi. Cha tôi bảo.
3.
Thường là ở phòng khách bao giờ cũng có lọ hoa lớn. Cha tôi rất thường đặt tại đó một bình violet. Mầu tím ngắt lốm đốm trong sắc xanh nhọn chua chúa vươn lên từ cái bình gốm màu không chỉ ấm lòng bè bạn, không chỉ cho khách xuân thực sự nào xuân. Cũng phải chọn đúng màu bình. Đừng lạnh mà cũng không nóng quá, vì cái thứ pha màu giữa nơi đặt nó đứng đấy cũng nghiêm cẩn làm sao. Đôi năm ông chơi cúc. Những đoá cúc đại đoá thường trầm tĩnh đứng trong phòng tranh. Đại đoá mua tới hơn vài chục bông, phải hướng cho từng đoá không chen nhau san sát để từng bông khoe hết vẻ đẹp riêng mình. Chơi cúc lâu tàn. Nó giữ xuân ở lại miên man sau Tết, để Tết lặn vào những bức tranh khi hết ngày rong chơi.
Anh tôi thì lại khác. Anh cứ thích giữa bàn nhà, phòng chính một bình hoa nhiều loại. Dăm bông Đồng tiền. Vài cành đủ nụ đủ hoa, đủ màu Thược dược. Giữa dăm loài hoa “quần chúng” ấy, dân dã ấy, anh tôi vẫn dành lại, vượt lên là dăm cành vi-ô-lét, chắc là trọng cái nết yêu hoa của cha tôi. Để ông và tôi cứ tủm tỉm cười với nhau, và tôi khi nhớ ra ngày Tết vẫn cười đến tận giờ.
Vâng khi năm nay, bạn ơi - Hà Nội Hoa, tôi không về hương Tết, hoa Tết và ngoài kia tuyết gió hai tuần gào rú thổi…
Nước Đức, giáp Tết Mậu Tí
(Hà Nội hoa - Nguyễn Văn Thọ, in trong 36 tạp văn, tuỳ bút Hà Nội, Quốc Văn (Tuyển chọn), NXB Thanh niên, 2010, tr.248 đến 252.)
* Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê thôn Đà, xã Quỳnh Khê, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, hiện đang sống tại làng Ngọc Hà, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, là một nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1988 sang Cộng hòa Dân chủ Đức làm Đội trưởng lao động và ở lại CHLB Đức sau khi nước Đức thống nhất. Năm 2014, về định cư hẳn tại Hà Nội. Nguyễn Văn Thọ là một cây bút vạm vỡ, tài hoa. Dù viết về đề tài nào, Nguyễn Văn Thọ cũng tạo được ấn tượng. Ông viết nhiều thể loại, song thành công nhất với truyện ngắn.
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi nào của người Hà Nội trong dịp tết?
Câu 2. Văn bản Hà Nội hoa được viết theo thể loại nào?
Câu 3. Nội dung tác giả thể hiện ở phần 2 của văn bản là gì?
Câu 4: Tác giả đã thể hiện tình cảm gì với thú chơi ngày tết của người Hà Nội?
Câu 5. Theo nhân vật tôi, người cha thích nhất là thứ đào phai, vì sao?
Câu 6: Phần 3 của văn bản, sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã thể hiện điều gì trong văn hoá chơi hoa của các thế hệ ?
Câu 7: Cách chọn hoa cúng tết của người mẹ cho ta thấy điều gì ở người mẹ?
Câu 8: Theo em, thú chơi hoa tết có tồn tại ở địa phương của em không? Em cảm nhận như thế nào về thú chơi này?
II. LÀM VĂN (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt.
HƯỚNG DẪN CHẤM
Hướng dẫn chấm - Mã đề: 222
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC HIỂU | 5,0 | |
| 1 |
Viết Hà Nội hoa, tác giả đã cho ta thấy thú chơi hoa của người Hà Nội trong dịp tết. Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - HS trả lời có nội dung tương đương như đáp án nhưng diễn đạt chưa tốt, chưa thuyết phục: từ 0,25 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| 2 |
Thể loại tuỳ bút Hướng dẫn chấm: - HS trả lời như đáp án: 0,5 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| 3 |
Nội dung tác giả thể hiện ở phần 2 của văn bản là: Người mẹ chọn, bày hoa cúng Tết Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| 4 |
Qua văn bản, tác giả đã thể hiện sự trân trọng, niềm tự hào về nét đẹp văn hoá truyền thống của người Hà Nội nói riêng và người Việt Nam nói chung. Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đồng như đáp án: 1,0 điểm - HS trả lời có nội dung tương đương như đáp án nhưng diễn đạt chưa tốt, chưa thuyết phục: trừ 0,5 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
1,0 | |
| 5 |
Loài hoa người cha thích nhất là thứ đào phai, vì cách đào phai dâng hiến cho đời đó là từng bông nở chậm, chầm chậm khoe sắc, phai dần từng lớp từng lớp cả mầu lẫn cánh, chầm chậm nhả bông để cuối cùng hiện ra mầm sống mới. Nó tựa như vòng luân hồi của kiếp con người. Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đồng như đáp án: 1,0 điểm - HS trả lời có nội dung tương đương như đáp án nhưng diễn đạt chưa tốt, chưa thuyết phục: từ 0,5 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
1,0 | |
| 6 |
Từ sự khác nhau trong cách chơi hoa của hai cha con đã cho ta thấy có sự tiếp nối trong thú chơi hoa của thế hệ sau với thế hệ trước. Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - HS trả lời có nội dung tương đương như đáp án nhưng diễn đạt chưa tốt, chưa thuyết phục: từ 0,25 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| 7 |
Cách chọn hoa cúng tết của người mẹ cho ta thấy người mẹ là người rất tinh tế, cẩn trọng trong việc chọn và bày hoa cúng tết. đó cũng là nét đẹp văn hoá của người Hà Nội trong việc ứng xử tâm linh. Hướng dẫn chấm: - HS trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - HS trả lời có nội dung tương đương như đáp án nhưng diễn đạt chưa tốt, chưa thuyết phục: từ 0,25 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| 8 |
HS có thể trả lời theo thực tế địa phương và nêu cảm nhận của mình về thú chơi hoa ngày tết tại địa phương mình hợp lí không phản cảm không trái với thuần phong mĩ tục của người Việt. Hướng dẫn chấm: - Học sinh làm như đáp án (chấp nhận các cách diễn đạt khác nhau): 0,5 điểm - Học sinh nêu cảm nhận nhưng chưa rõ ràng: 0,25 điểm - HS không trả lời được hoặc trả lời sai: 0 điểm |
0,5 | |
| II | VIẾT | 5,0 | |
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt. |
|||
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận |
0,5 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận. Trình bày suy nghĩ của về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt |
0,5 | ||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, nêu rõ lí do và quan điểm của bản thân, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận, dẫn chứng thuyết phục. Sau đây là một số gợi ý: - Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề nghị luận - Giải thích: + Tôn trọng là thái độ đánh giá cao, không vi phạm hay xúc phạm. + Sự khác biệt không chỉ là về ngôn ngữ, màu da, tôn giáo mà còn là sự khác nhau trong tính cách, nhận thức, ước mơ, cá tính ở mỗi con người, rộng hơn là sự khác biệt trong phong tục, tập quán, văn hóa của mỗi vùng miền, quốc gia, dân tộc. - Bàn luận: Sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt: + Mỗi người là một cá thể riêng biệt, có suy nghĩ, cách đánh giá, có cá tính riêng. Mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, dân tộc có nét đặc sắc riêng về văn hóa. Sự khác biệt có thể làm cho cuộc sống phong phú, ý nghĩa hơn. Tôn trọng sự khác biệt là văn hóa ứng xử cần có của mỗi người, đặc biệt trong xã hội hiện đại ngày nay. + Tôn trọng sự khác biệt giúp con người hòa nhập với cuộc sống, gắn kết những mối quan hệ tốt đẹp. + Tôn trọng sự khác biệt giúp chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về cuộc sống, học được cách lắng nghe, đồng cảm, từ đó hoàn thiện bản thân mình hơn. Người biết tôn trọng người khác sẽ được mọi người yêu quý và tôn trọng. + Tôn trọng sự khác biệt sẽ góp phần tạo ra một môi trường sống lành mạnh, tích cực, văn minh, thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân, xã hội. + Phê phán thái độ kì thị, phân biệt đối xử, thái độ và hành vi không đúng trước những sự khác biệt. Mặt khác cần thấy rằng sự khác biệt cần hướng đến phát huy giá trị của bản thân và đóng góp cho cộng đồng. - Liên hệ bản thân, rút ra bài học: + Tôn trọng sự khác biệt, trân trọng sự sáng tạo + Phấn đấu vươn lên ghi dấu ấn của bản thân, cống hiến cho cộng đồng. Lưu ý: Học sinh cần có dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận Hướng dẫn chấm: - Lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc sảo, dẫn chứng thuyết phục: 2.5 - 3.0 điểm. - Lập luận chưa chặt chẽ, có lý lẽ và dẫn chứng hợp lý: 1.75 - 2.25 điểm - Luận điểm chưa rõ ràng, lý lẽ vụng về, dẫn chứng chưa phù hợp: 1.0 - 1.5 điểm. - Bài viết lan man, chưa đúng trọng tâm: 0.5 - 0.75 điểm - Không làm bài/làm lạc đề: không cho điểm |
3,0 | ||
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0,5 | ||
|
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. Hướng dẫn chấm: Học sinh huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong diễn đạt, lập luận, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh, đoạn văn giàu sức thuyết phục. - Đáp ứng được 2 yêu cầu trở lên 0,5 điểm. - Đáp ứng được 1 yêu cầu 0,25 điểm. |
0,5 | ||
| Tổng điểm | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 333
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TRÁI TIM HỔ
Lược một đoạn: Trong bản Hua Tát, có một cô gái xinh đẹp tên là Pùa, nhưng Pùa lại bị liệt đôi chân, suốt năm suốt tháng nằm một chỗ. Năm Pùa mười sáu tuổi, trong rừng xuất hiện một con hổ dữ khiến cả bản sống trong nơm nớp lo âu...
[…] Người ta đồn con hổ có trái tim khác thường, trái tim nó chỉ bằng hòn sỏi và trong suốt. Trái tim ấy là bùa hộ mệnh, cũng là vị thuốc thần. Ai có trái tim ấy sẽ được may mắn, giàu sang suốt cả cuộc đời. Trái tim ấy nếu đem ngâm rượu sẽ chữa được mọi thứ bệnh hiểm nghèo. Liệt chân như Pùa, uống thứ thuốc ấy cũng sẽ khỏi được.
Tin đồn như con chim cắt chuyền khắp thung lũng. Ở bếp lửa, chân quản, dưới suối, trên nương, đâu đâu người ta cũng nói về trái tim hổ. Tin đồn bay xuống cả vùng đồng bằng của người Kinh, bay lên cả đỉnh núi cao của người Mông. Tin đồn bao giờ cũng thế, qua miệng của những kẻ ngu dốt thì quái lạ thay, thường thú vị hơn qua những con người từng trải.
Có rất nhiều người đi săn con hổ. Có người Thái, người Kinh, người Mông... Người thì muốn săn hổ để lấy trái tim làm bùa hộ mệnh, người thì muốn lấy trái tim hổ làm thuốc. Trách họ thế nào được? Đời người ta, ai đã chẳng từng săn đuổi bao nhiêu phù du?
Trong đám thợ săn, đông nhất là đám con trai bản Hua Tát. Họ muốn lấy được trái tim hổ để về chữa bệnh cho Pùa.
Việc săn hổ kéo dài gần hết mùa đông. Nhưng, như có phép lạ, con hổ tinh khôn biết tránh những nơi người ta phục nó. Những người đi săn bị nó săn lại. Hơn mười người chết vì con hổ dữ. Tiếng khóc than lẫn với tiếng gió hú dài âm âm trong bản. Người ta nản chí dần, số người đi săn rụng nhanh như bứa chín cây, cuối cùng chỉ còn một người. Người ấy là Khó.
Khó là trai bản Hua Tát. Chàng mồ côi cha mẹ, sống như con don con dim. Con don, con dim sống lủi thủi, đi con đường riêng, ăn uống thế nào không ai biết được. Khó chẳng bao giờ tham dự những cuộc họp mặt, hội hè ở bản. Phần vì Khó nghèo, phần Khó xấu trai. Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt. Người Khó dị dạng: hai tay dài chấm đầu gối, đôi chân khẳng khiu lúc nào đi cũng như chạy. Con don, com dim có đi bao giờ?
Thấy Khó đi săn nhiều người ngạc nhiên. Người ta lại càng ngạc nhiên thấy Khó săn hổ không phải để lấy bùa phép may mắn cho chàng mà để lấy thuốc về chữa cho Pùa. Đêm đêm, họ thấy Khó đứng dưới chân sàn nhà Pùa nhìn lên như kẻ si tình, cũng giống như tên ăn trộm.
Người bản Hua Tát không biết Khó đi con đường nào tìm vết hổ. Đường của con don, con dim hổ cũng không biết. Con hổ thấy sự nguy hiểm. Nó thay đổi chỗ ở, thay đổi đường đi. Khó và con hổ săn nhau từng giờ...
Một đêm, người ta đang ngồi kể chuyện ở sàn nhà Pùa thì nghe thấy tiếng súng nổ. Tiếng súng kíp âm âm như tiếng sấm. Có tiếng hổ gầm dữ dội vang trong khe núi.
- Hổ chết rồi! Đúng Khó bắn chết hổ rồi! Cả bản kinh hoàng xôn xao như rừng gặp bão. Người ta reo hò. Nhiều người vừa reo vừa trào nước mắt. Trai bản đốt đuốc lên rừng tìm Khó.
Gần sáng, người ta mới tìm thấy Khó và xác con hổ đã chết. Cả hai lăn xuống vực sâu dưới suối. Khó bị gãy lưng, mặt chàng đầy vết cào cấu của hổ. Con hổ bị bắn toác đầu. Viên đạn bắn gần xé rách trán hổ xuyên vào tận óc.
Nhưng, điều kỳ lạ nhất là ngực con hổ đã bị rạch đi, trái tim của nó không còn đấy nữa. Vết rạch bằng dao còn mới, máu bết hai bên vết rạch chảy ròng ròng, sủi thành bọt như bong bóng. Đã có kẻ nào đánh cắp trái tim con hổ!
Tất cả trai bản Hua Tát lặng im, cúi gầm mặt xuống. Họ hổ thẹn, căm giận, chua xót.
Hơn mười người chết trong mùa đông ấy vì con hổ dữ. Thêm hai người nữa chết sau câu chuyện đó. Hai người ấy là Pùa và Khó...
Người bản Hua Tát đã chôn con hổ ngay chỗ nó chết. Không ai nhắc lại huyền thoại về sự mầu nhiệm của trái tim hổ. Người ta đã quên nó đi như quên bao điều cay đắng xảy ra trên thế gian này. Điều ấy cũng cần…
(1971, Những ngọn gió Hua Tát, Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn học, 2003, tr. 276-279)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2. Nêu lý do khi thấy Khó đi săn nhiều người lại ngạc nhiên.
Câu 3. Lí giải vì sao câu văn in đậm dưới đây không mắc lỗi logic:
“Khó chẳng bao giờ tham dự những cuộc họp mặt, hội hè ở bản. Phần vì Khó nghèo, phần Khó xấu trai. Chàng bị đậu mùa, mặt rỗ chằng chịt. Người Khó dị dạng: hai tay dài chấm đầu gối, đôi chân khẳng khiu lúc nào đi cũng như chạy. Con don, com dim có đi bao giờ?”
Câu 4. Nêu tác dụng của các yếu tố kì ảo trong truyện.
Câu 5. Nhận xét giá trị tư tưởng mà tác giả gửi gắm qua văn bản Trái tim hổ đối với đời sống hiện nay.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chàng Khó trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm).
“Thế giới ngày mai thuộc về những người có tầm nhìn hôm nay.” (Robert Schuller)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tầm nhìn của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | Đọc hiểu | 4.0 | |
| 1 |
Ngôi kể của văn bản: ngôi thứ 3. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời không đúng như đáp án : không cho điểm. |
0.5 | |
| 2 |
- Lý do khi thấy Khó đi săn nhiều người lại ngạc nhiên: thấy Khó săn hổ không phải để lấy bùa phép may mắn cho chàng mà để lấy thuốc về chữa cho Pùa. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. - Học sinh trả lời không đúng hoặc không làm bài: không cho điểm. |
0.5 | |
| 3 |
- Câu văn in đậm không mắc lỗi logic vì: + Xét trên bề mặt ngôn từ, câu văn Con don, com dim có đi bao giờ? được viết dưới dạng một câu hỏi, hướng về đối tượng là “Con don, con dim” dù các câu trước tập trung miêu tả nhân vật Khó. + Tuy nhiên, câu văn là hình ảnh so sánh, ẩn dụ giúp nhà văn khắc họa rõ nét nỗi bất hạnh (ngoại hình xấu xí, dị dạng) và vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật Khó. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1.0 điểm. - Học sinh nêu được 1 trong 2 ý hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1.0 | |
| 4 |
- Những yếu tố kì ảo trong truyện: Chi tiết về sức mạnh và sự màu nhiệm của trái tim hổ: + Trái tim hổ là bùa hộ mệnh, cũng là vị thuốc thần. + Trái tim hổ sẽ mang lại may mắn, giàu sang suốt cả cuộc đời cho con người. + Trái tim hổ nếu đem ngâm rượu sẽ chữa được mọi thứ bệnh hiểm nghèo. Liệt chân như Pùa, uống thứ thuốc ấy cũng sẽ khỏi được. - Tác dụng: + Khẳng định niềm tin mù quáng của con người vào những điều viển vông. Nó góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm: thức tỉnh con người sống lý trí, không nên tin vào những điều hão huyền, không có thực. + Chi tiết thể hiện tài năng nghệ thuật, cách kể chuyện ly kì, cuốn hút của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Hướng dẫn chấm: - Thí sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm + Học sinh nêu được 1 trong 2 ý hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. + Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1.0 | |
| 5 |
Nhận xét giá trị tư tưởng của truyện ngắn Trái tim hổ mà Nguyễn Huy Thiệp gửi gắm đối với đời sống hiện nay: - Câu chuyện gợi cho con người khát vọng về một xã hội tốt đẹp, ở đó con người sống với nhau bằng tình yêu thương và lòng bao dung. - Câu chuyện thức tỉnh con người hãy sống lý trí, tỉnh táo, đừng bao giờ tin vào những điều huyễn hoặc, không có thực trong cuộc sống. Cuộc sống hiện đại với bao quan hệ bộn bề cần con người luôn biết xét đoán thông minh, biết ứng xử để đạt được những giá trị đích thực. Hướng dẫn chấm: + Học sinh trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm. + Học sinh nêu được 1 trong 2 ý hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm. + Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm. |
1.0 | |
| II | VIẾT | 6.0 | |
| 1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chàng Khó trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. |
2.0 | |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn - Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. - Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chàng Khó trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu. |
0.25 | ||
|
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng trên cơ sở bảo đảm những nội dung sau: - Số phận bất hạnh: xuất thân nghèo khó, mồ côi cả cha lẫn mẹ, ngoại hình xấu xí, dị dạng - Vẻ đẹp tâm hồn: Có khát vọng tình yêu, hạnh phúc; có trái tim giàu lòng yêu thương: tình yêu của Khó dành cho Pùa đã vượt lên trên những toan tính, ích kỷ tầm thường của con người. Trong khi mọi người tìm cách giết hổ để có được sức mạnh, sự giàu sang thì Khó giết hổ chỉ vì muốn cứu Pùa, cũng không hề nghĩ cho bản thân mình dù chỉ một thoáng. - Nghệ thuật thể hiện nhân vật chàng Khó: sử dụng yếu tố kì ảo, nhiều chi tiết bất ngờ, hình tượng nhân vật mang màu sắc huyền thoại, giọng điệu khách quan lạnh lùng, ly kì cuốn hút….. * Lưu ý: Chấp nhận cách diễn đạt khác nhưng cần nêu đúng bản chất vấn đề. |
1.0 | ||
|
d. Diễn đạt - Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. |
0.25 | ||
| 2 |
“Thế giới ngày mai thuộc về những người có tầm nhìn hôm nay.”(Robert Schuller) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bàn về tầm nhìn của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay. |
4.0 | |
|
a . Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: tầm nhìn của thế hệ trẻ trong thời đại ngày nay. |
0.5 | ||
|
c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận; trình bày rõ quan điểm và hệ thống ý; lập luận chặt chẽ, thuyết phục (lí lẽ xác đáng; biết phân tích các dẫn chứng trong văn bản để làm sáng tỏ cho lập luận). - Đề xuất được hệ thống ý phù hợp, sắp xếp các ý theo bố cục 3 phần của bài văn nghị luận: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề. * Thân bài: - Giải thích vấn đề nghị luận: Tầm nhìn là khả năng nhìn xa trông rộng, hình dung, phán đoán được những điều sẽ xảy ra trong tương lai. - Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau: + Thời đại số hoá cuộc sống thay đổi từng giây nên tầm nhìn quyết định sự thành công trong cuộc sống của mỗi bạn trẻ. + Tầm nhìn giúp các bạn trẻ xác định hướng đi, lộ trình của cuộc đời, khẳng định giá trị, từ đó có động lực để phấn đấu đạt được mục tiêu của cuộc đời. + Giúp các bạn trẻ dám nghĩ, dám làm, phát huy khả năng sáng tạo, có tư duy khoáng đạt, ý thức học hỏi và tinh thần cầu thị. + Giúp các bạn trẻ có ý thức trau dồi kiến thức, kĩ năng, tích luỹ kinh nghiệm, tâm lí vững vàng, sẵn sàng đón nhận cái mới và những khó khăn thách thức của cuộc đời. - Mở rộng, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác để có cái nhìn toàn diện: + Bên cạnh những bạn trẻ có tầm nhìn xa trông rộng vẫn có những người có tầm nhìn hạn hẹp, không có định hướng cho tương lai. + Có tầm nhìn không có nghĩa là chỉ nghĩ tới tương lai thậm chí ảo tưởng về tương lai mà quên đi thực tại. Có tầm nhìn về tương lai nhưng cần phải sống với hiện tại chúng ta sẽ cân bằng được cuộc sống và thành công sẽ đến. + Trao đổi với quan điểm trái chiều. * Kết bài: Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân. |
2.5 | ||
|
d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Biết sử dụng ý kiến, nhận định tăng sức hấp dẫn cho bài viết. Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. |
0.5 | ||
| TỔNG ĐIỂM (I + II) | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 444
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
(Lược một đoạn: Anh trai, chị gái và Tân đều lên đường đi du học nước ngoài. Chỉ có Nghĩa, cậu em út, xung phong đi bộ đội dù anh đỗ Đại học Bách Khoa và mặc cho người cha ngăn cản. Từ khi Nghĩa lên đường, bà mẹ thường xuyên viết thư đến địa chị một hòm thư để gửi cho Nghĩa tuy nhiên thư viết đi bao nhiêu lại bị trả về nguyên vẹn bấy nhiêu. Mãi sau này khi người mẹ mất, Tân mang chiếc rương cũ về mở ra mới biết trong đó là những kỉ vật một thời, đặc biệt là những bức thư chưa bao giờ được mở mà người mẹ viết gửi cho Nghĩa – người con đi chiến đấu đã mãi mãi không trở về.)
Tất cả đều bị gửi ngược về hoàn trả, nhưng mẹ vẫn nhẫn nại viết và nhẫn nại gửi cầu may tới cái hòm thư đã hoang phế đó. Mấy bức đầu mẹ anh viết ngắn như là viết vội để gửi đi gấp. Không viết gì nhiều, những thư ấy chỉ hối Nghĩa mau biên thư về cho cha mẹ hay số hòm thư mới với lại hiện đang ở đâu, sức khoẻ thế nào. Nhưng theo dần năm tháng chiến tranh, thư của mẹ ngày một nhiều trang hơn và ngày một buồn bã hơn. Gửi đi bao nhiêu nhận lại bấy nhiêu, những lá thư của mẹ càng về sau càng như nhật ký, như là để gửi tới chính mình. Chữ mẹ nắn nót, dễ đọc dẫu mầu mực đã phai, dòng nối dòng đều đều, miên man che giấu niềm vô vọng. Mẹ kể rằng đêm qua mẹ nhìn thấy Nghĩa nhưng chưa kịp gọi thì đã tỉnh, tỉnh dậy thì đã chẳng còn lại gì, chẳng níu giữ được gì nữa cả, trong phòng tối đen, ngoài trời còi báo động hú vang. […]
Tất cả những điều ấy chưa từng bao giờ mẹ viết trong thư gửi ra nước ngoài cho Tân và anh chị của anh. Sau này cũng không bao giờ kể ra lời. Vậy mà bây giờ nhận lấy chiếc rương này thì câu chuyện dài triền miên đêm này qua đêm khác, năm này qua năm khác mẹ đã kể với người con út, Tân lại phải đón lấy. “Khổ thân các con sinh ra gặp thời loạn lạc ...", lá thư ấy mẹ viết vào ngày cuối tháng Chạp năm 72. Đất trời bùng cháy, thành phố đổ vỡ, nhưng mẹ không rời Hà Nội. Hơi bom phá toang cửa kính, mẹ vẫn đêm đêm yên lặng ngồi chỗ ngày trước cha vẫn thường ngồi, và vẫn như hồi cha còn sống, mẹ pha một ấm trà để lên khay trên bàn giữa hai cái tách hạt mít... Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai con gái đều quý. Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn. Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt âm vô tín. Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? ".
Nghĩa ơi! Tiếng gọi ấy là lời cuối của lá thư cuối cùng mẹ của Tân viết gửi người con trai út. Không còn lá thư nào viết vào những ngày tháng sau đó nữa. Có lẽ vì sau đó là năm 73, hòa bình. Anh chị em Tân lần lượt đỗ đạt trở về.
Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác. Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc. Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng. May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới.
(Gọi con, Bảo Ninh, nhandan.vn, ngày 19/8/2005)
Chú thích:
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952, tại Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Quê ông ở Xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh (nay thuộc thành phố Đồng Hới), tỉnh Quảng Bình. Bảo Ninh được biết tới với những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh và thời hậu chiến. Ông là nhà văn có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc đổi mới văn xuôi Việt Nam hiện đại giai đoạn từ sau 1975 tới nay.
Truyện ngắn “Gọi con” trong tập truyện “Chuyện xưa kết đi, được chưa” xuất bản năm 2009 của nhà văn Bảo Ninh là một tác phẩm giàu cảm xúc, khắc họa nỗi lòng người mẹ có con hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 2: Chỉ ra điểm nhìn và sự dịch chuyển điểm nhìn trong văn bản.
Câu 3: Phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ được sử dụng trong những câu văn sau:
“Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi? "
Câu 4: Hình ảnh “Gương mặt mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng.” gợi cho anh/chị suy nghĩ gì?
Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất anh/chị rút ra từ văn bản trên, lí giải vì sao?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá vẻ đẹp phẩm chất nhân vật người mẹ trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
“Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng.”
(John Maxwell, Tôi tư duy, tôi thành đạt, NXB Lao động xã hội, 2012)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị dưới góc nhìn của tuổi trẻ về Tư duy số đông.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC HIỂU | 4.0 | |
| 1 |
Ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản: Ngôi thứ ba Hướng dẫn chấm: - Trả lời như đáp án: 0,5 điểm - Trả lời không đúng như đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm. |
0.5 | |
| 2 |
- Truyện được kể theo điểm nhìn bên ngoài, toàn tri - điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba - Có sự dịch chuyển điểm nhìn từ điểm nhìn của người kể chuyện sang điểm nhìn của nhân vật người mẹ Hướng dẫn chấm: - Trả lời như đáp án: 0,5 điểm - Trả lời được 1/2 đáp án: 0,25 điểm - Trả lời không đúng như đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm. |
0.5 | |
| 3 |
Tác dụng của câu hỏi tu từ: - Nhấn mạnh tâm trạng đau khổ, mong ngóng, chờ đợi con trong vô vọng qua đó thấy được tình yêu thương con vô bờ của người mẹ. - Tạo giọng điệu khắc khoải, day dứt, buồn thương cho câu văn Hướng dẫn chấm: - Trả lời như đáp án: 1,0 điểm - Trả lời được một ý trong đáp án: 0,75 điểm - Trả lời không đúng như đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm. |
1.0 | |
| 4 |
Hình ảnh gợi suy nghĩ: - Cho đến lúc chết người mẹ vẫn không thôi chờ đợi, mong mỏi người con trở về - Chiến tranh để lại những đau thương, mất mát mãi không bao giờ nguôi ngoai Hướng dẫn chấm: - Trả lời tương đương như đáp án: 1,0 điểm - Trả lời tương đương như đáp án được 1/2 số ý: 0,5 điểm - Trả lời không đúng như đáp án hoặc không trả lời: 0,0 điểm. |
1.0 | |
| 5 |
Học sinh đưa ra được một thông điệp phù hợp, lí giải sâu sắc, thuyết phục. - Thông điệp về tình mẫu tử thiêng liêng - Thông điệp về những nỗi đau mà chiến tranh để lại… - Trả lời được 1 thông điệp: 0,5 điểm - Học sinh lí giải thuyết phục: 0,5 điểm - Trả lời không đúng hoặc không trả lời: 0,0 điểm. |
1.0 | |
| II | VIẾT | 6.0 | |
| 1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá vẻ đẹp phẩm chất nhân vật người mẹ trong đoạn trích phần đọc hiểu. |
2.0 | |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận Vẻ đẹp tâm hồn người mẹ trong đoạn trích. |
0.25 | ||
|
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lý lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo những nội dung sau: - Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ qua đoạn trích: + Tình yêu thương con vô bờ bến: Vì lo cho Nghĩa nên bà viết thư hỏi thăm động viên, thư dù bị trả về nhưng người mẹ vẫn cứ viết với hi vọng những lá thư ấy sẽ đến tay con mình; Sống trong hi vọng, khắc khoải chờ đợi ngày con trở về, thậm chí trong giấc mơ cũng thấy con. + Giàu đức hi sinh: Luôn nghĩ cho các con, vì không muốn những đứa con khác lo lắng cho mình nên bà giữ kín những nỗi niềm trong lòng cho đến tận lúc qua đời. => Nhân vật người mẹ tiêu biểu cho vẻ đẹp của những người phụ nữ Việt Nam, hết lòng yêu thương, hi sinh tất cả vì con. + Vẻ đẹp tâm hồn người mẹ được thể hiện sinh động qua hành động, lời nói và diễn biến tâm trạng; ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc. |
1.0 | ||
|
d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết trong đoạn văn. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ. |
0.25 | ||
| 2 |
“Rất nhiều người tìm kiếm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng số đông người đang làm gì đó. Việc đó chắc phải đúng.” John Maxwell Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh chị dưới góc nhìn của tuổi trẻ về Tư duy số đông. |
4.0 | |
|
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng một bài văn nghị luận Bảo đảm yêu cầu bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn nghị luận. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận Góc nhìn của tuổi trẻ về Tư duy số đông |
0.5 | ||
|
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lý lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận Thân bài: - Giải thích ý kiến của John Maxwell và khái niệm “tư duy số đông” - Bàn luận + Tư duy số đông hiện hữu trong mọi lĩnh vực của đời sống: chính trị, văn hoá, xã hội… + Chúng ta thường có xu hướng tham vấn ý kiến của nhiều người và đặt niềm tin vào những quan điểm của đại đa số. + Khi số đông tham gia bàn bạc, giải quyết vấn đề nào đó, thường đưa ra những quyết định, giải pháp sáng suốt, hợp lý do đó con người có suy nghĩ rằng số đông bao giờ cũng đúng. + Đem đến con người cảm giác an toàn, có chỗ dựa, được bảo vệ và giảm áp lực nặng nề về trách nhiệm… - Nêu nhận thức của bản thân, rút ra thông điệp bài học. - Mở rộng vấn đề trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác. Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. Lưu ý: Thí sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
2.5 | ||
|
d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. |
0.5 | ||
| TỔNG ĐIỂM (I + II) | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 555
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
BÀI HỌC TUỔI THƠ
Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu. Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể... Đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại tôi:
- Ba! Có bao giờ thấy có một bài luận văn nào điểm không không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu.
Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp:
- Còn thua ba nữa đó, ba. Ít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn của con, con số không bự như quả trứng.
Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học trò của ba nó ít nhứt cũng hơn được một đứa.
Số là cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in thành sách "Nhà văn học văn". Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở để sau này trở thành nhà văn? Rất lô-gích và rất là tự nhiên vậy. Duy chỉ có bài của tôi hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Văn Tố (1948 - 1950), tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn.
Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi:
- Sao bây giờ ba là nhà văn? Và bạn bè cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại.
Tôi hỏi con tôi:
- Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm.
- Luận văn cô cho "Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố".
- Con được mấy điểm?
- Con được sáu điểm.
- Con tả ba như thế nào?
- Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy.
- Mấy đứa khác, bạn của con?
Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng:
- A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba.
- Đêm ba nó làm gì?
- Nó nói, đêm ba nó toàn đi nhậu.
- Nó tả ba nó đi nhậu à?
- Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa?
- Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào?
- Nó không tả không viết gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô.
- Sao vậy?
Hôm trả lại bài cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét: "Sao trò không làm bài". Nó cúi đầu làm thinh. Cô lại hét to hơn: "Hả?". Nó cũng làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run.
- Nó là học trò loại "cá biệt" à?
- Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba.
- Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào?
Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: "Sao trò không làm bài?" Tới lúc đó nó mới nói: "Thưa cô, con không có ba". Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba!
Tôi bỗng nhập vai là cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba.
Sau đó cô và cả lớp mới được biết, em mồ côi cha khi vừa mới lọt lòng mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con...
Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má.
Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học, bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt.
Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bàn viết.
(Mùa thu, 1990 - Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1 (0,5 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản?
Câu 3 (0,5 điểm): Xác định ngôi kể của văn bản?
Câu 4 (1,0 điểm): Câu văn Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc gì của nhân vật?
Câu 5 (1,0 điểm): Nhà văn Nguyễn Quang Sáng muốn gửi gắm ý nghĩa gì qua phần kết của câu chuyện?
Câu 6 (0.5 điểm): Cậu bé học trò bị bài văn không điểm hiện lên như thế nào trong tác phẩm?
Câu 7 (0,5 điểm): Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm?
Câu 8 (0,5 điểm): 01 bài học anh/chị rút ra được từ câu chuyện là gì?
II. Làm văn (5,0 điểm)
Anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 500 chữ) phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyện “Bài học tuổi thơ” của Nguyễn Quang Sáng.
Hướng dẫn chấm
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC HIỂU | 5,0 | |
| 1 |
Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện ngắn Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,5 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
0,5 | |
| 2 |
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Tự sự Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,5 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
0,5 | |
| 3 |
Xác định ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ nhất Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,5 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
0,5 | |
| 4 |
Câu văn Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc của nhân vật: - Buồn, xót xa, tự hào Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm - Học sinh trả lời đúng 02 ý trong đáp án: 0,75 điểm - Học sinh trả lời đúng 01 ý trong đáp án: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
1,0 | |
| 5 |
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng muốn gửi gắm ý nghĩa qua phần kết của câu chuyện: - Trong cuộc sống và hành trình sáng tác văn học cần đề cao tính trung thực. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. |
1,0 | |
| 6 |
Cậu học trò trong bài văn hiện lên: - Hoàn cảnh đáng thương. - Trung thực, dũng cảm. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh trả lời đúng 1 trong 2 ý: 0,25 điểm. - Học sinh trả lời không đúng: 0,0 điểm. |
0,5 | |
| 7 |
Thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm: Xót thương, ngưỡng mộ và khâm phục. + Xót thương cho nỗi đau mất cha, sống thiếu vắng tình cha, ông xót thương và thấu hiểu niềm khao khát có cha của cậu bé + Ngưỡng mộ, khâm phục sự dũng cảm và tấm lòng trung thực sáng trong của cậu bé. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh trả lời đúng 1 ý: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. |
0,5 | |
| 8 |
Bài học rút ra sau khi đọc văn bản: - HS có thể rút ra những bài học khác nhau: Bài học về lòng trung thực trong cuộc sống, bài học về sự quan tâm thấu hiểu…. - Có lí giải phù hợp Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được 01 bài học hợp lí: 0,5 điểm - Học sinh trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. |
0,5 | |
| II | VIẾT | 5,0 | |
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề |
0,5 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích tác phẩm truyện “Bài học tuổi thơ” – Phân tích nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đúng vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm. |
0,5 | ||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần phân tích, đánh giá về chủ đề và nghệ thuật của bài thơ, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lý. Sau đây là một hướng gợi ý: - Nét đặc sắc về nội dung của truyện ngắn: Câu chuyện về tình người và cách người ta đối xử với quá khứ. Điểm “không” dành cho người thầy khi chưa thấu đáo trong cách đánh giá và bất kì ai đã quên một phần lịch sử cũng như trân trọng đức tính cao đẹp của con người. - Nét đặc sắc về nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, dễ hiểu, xoay quanh cuộc trò chuyện giữa hai cha con. Câu chuyện được kể thông qua điểm nhìn của người cha – người kể chuyện ngôi thứ nhất. Đây là điểm nhìn xuyên suốt tác phẩm, giúp cho câu chuyện trở nên sinh động, cụ thể, giàu cảm xúc và chân thật hơn. Thành công của truyện là đã xây dựng được những nhân vật thật tiêu biểu…… Hướng dẫn chấm: - Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 3,0 điểm. - Phân tích đầy đủ nhưng lập luận không chặt chẽ: 2,25 – 2,75 điểm - Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,5 điểm – 2,0 điểm. - Phân tích chung chung, sơ sài: 0,5 điểm – 1,25 điểm. |
3,0 | ||
|
d. Chính tả, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0,5 | ||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ; văn viết có cảm xúc. |
0,5 | ||
| I + II Tổng điểm | 10 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 666
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
MÙI RƠM RẠ QUÊ MÌNH...
Ngọc Bích
(1) Tôi sinh ra từ một vùng sâu vùng xa ở bưng biền Đồng Tháp, lớn lên giữa hương đồng cỏ nội. Nơi tôi sống ruộng lúa không hẳn là thẳng cánh cò bay mà đủ ngan ngát mùi rơm rạ sau mỗi mùa gặt.
(2) Đối với những người sinh ra và lớn lên ở thôn quê thì dường như cánh đồng đã trở thành một phần ký ức chẳng thể nào quên, bởi nó gắn liền với tuổi thơ – phần thời gian trong trẻo nhất của một đời người.
(3) Trong ký ức của tôi, bức tranh đồng quê sống động một cách kỳ lạ. Đó là những sân phơi trải đầy lúa vàng, tụi con nít vẫn hay đi tới đi lui trên những thảm lúa ngoài sân để lúa mau khô, những bước chân nhỏ xinh in ngang dọc trên đệm lúa vàng. Chúng bước nhanh thật nhanh để tránh cái nắng trên đầu và cái nóng hừng hực dưới chân. Ngày mùa trong tôi còn là những ụ rơm, nhánh rạ trơ ra sau vụ gặt. Đâu đâu cũng thấy rơm rạ ngút ngàn, vàng những lối đi.
(4) Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi. Mùi rơm rạ là mùi của đồng ruộng, mùi của mồ hôi ba ngày vác cuốc ra đồng, mùi của niềm vui mùa lúa trúng, mùi nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ sau mỗi vụ thất thu.
(5) Nồi cơm mới thơm lừng, không những thơm bởi hạt gạo mà còn vì được đun bằng bếp rơm, lửa cháy bùng, cơm sôi ùng ục. Đó là cái mùi cứ phảng phất theo tôi, để rồi những tháng năm sau đó tôi đi khắp mọi miền, đi qua những đồng lúa xanh tít mắt bất chợt nhớ đến mùi thơm ấy, mùi hương của rơm rạ và mùi của chén gạo thơm hương lúa mới. Cái mùi ấy ngan ngát trong lồng ngực không dễ quên của biết bao con người lớn lên từ ruộng đồng như tôi.
(6) […] Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi… sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc. Chao ôi, cái mùi rạ nồng nồng khó tả.
(7) Mỗi lần về nhà đúng mùa gặt lúa, tôi hít lấy một hơi thật sâu như muốn nuốt hết cái không khí ấy, nhớ về mình còn là đứa trẻ của những tháng năm xưa. Những tháng năm đầu trần ngồi máy kéo ra đồng nghịch rơm, những tháng năm còn được nằm trọn trong vòng tay của ba mẹ.
(8) Có sợi rơm nào bay theo gió vương qua cành lá non, phảng phất hương vị của mùa mới, mùa của yêu thương, ước vọng và hy vọng. Tôi mang theo những khát khao, những ước mơ của mình gửi vào hương vị đó để thấy ấm áp, góp nhặt yêu thương cho riêng mình.
(9) Những kí ức tuổi thơ gắn liền với mùi rơm rạ quê hương bỗng chốc ùa về làm cho con đường đến sân bay trở nên ngắn ngủi. Tôi và anh tài xế công nghệ kia tạm gác lại những ký ức miền Tây thân thương của mình để hoà vào nhịp sống hối hả. Tôi tin là nó chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người rồi đến khi gặp người “rà đúng tần số” hoặc đôi khi chỉ cần nhắc về hai tiếng miền Tây thì những ký ức thân thương ấy lại ào ạt ùa về. Đã là tuổi thơ, là quê hương thì làm sao mà quên cho được.
(Chú thích: Ngan ngát: (mùi thơm) dễ chịu và lan toả ra xa)
(Nhiều tác giả, Nghĩa tình miền Tây, NXB Hồng Đức, 2022, tr. 41-44)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Tác giả đã lựa chọn những hình ảnh gì để thể hiện và gửi gắm tình yêu quê hương sâu sắc của mình?
Câu 2: Chỉ ra yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong văn bản?
Câu 3: Người viết đã sử dụng những từ ngữ nào để thể hiện cảm xúc về quê hương trong đoạn văn sau:
“Tôi lớn lên giữa mùi rơm rạ quê hương, mấy đứa bạn tôi giờ mỗi đứa một nơi. Có đứa qua xứ Tây Đô lập nghiệp, có đứa đi làm dâu tận vùng miệt thứ Cà Mau. Còn tôi… sống và làm việc ở phố thị xa hoa, đêm đêm nhớ nhà, nhớ mùi rơm rạ mà bật khóc. Chao ôi, cái mùi rạ nồng nồng khó tả”.
Câu 4: Xác định chủ đề của văn bản?
Câu 5: Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn sau:
“Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi. Mùi rơm rạ là mùi của đồng ruộng, mùi của mồ hôi ba ngày vác cuốc ra đồng, mùi của niềm vui mùa lúa trúng, mùi nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ sau mỗi vụ thất thu”.
Câu 6: Bài học học sâu sắc nhất sau khi đọc xong văn bản?
Câu 7: Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả rằng: những ký ức “chỉ tạm lắng lại trong tâm thức mỗi người” bởi “đã là tuổi thơ, là quê hương thì làm sao mà quên cho được”? Vì sao?
Câu 8: Trong văn bản, tác giả đã đã gửi vào ký ức tuổi thơ “những khát khao, những ước mơ” để “thấy ấm áp, góp nhặt yêu thương cho riêng mình”. Còn với anh/chị, kí ức tuổi thơ có ý nghĩa gì trong cuộc sống con người? Hãy viết câu trả lời trong một đoạn văn từ 8 – 10 dòng.
II. VIẾT (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của văn bản “Mùi rơm rạ quê mình” của tác giả Ngọc Bích.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| I | ĐỌC HIỂU | 5,0 | |
| 1 |
Những hình ảnh tác giả thể hiện và gửi gắm tình yêu quê hương sâu sắc của mình là: cánh đồng, mùi rơm rạ, nồi cơm mới thơm lừng... Hướng dẫn chấm: - Học sinh chỉ ra được 2-3 hình ảnh cho 0,5 điểm - Học sinh chỉ ra được 1 hình ảnh cho 0,25 điểm |
0.5 | |
| 2 |
- Yếu tố tự sự: “Đó là những sân phơi trải đầy lúa vàng, tụi con nít vẫn hay đi tới đi lui trên những thảm lúa ngoài sân để lúa mau khô, những bước chân nhỏ xinh in ngang dọc trên đệm lúa vàng. Chúng bước nhanh thật nhanh để tránh cái nắng trên đầu và cái nóng hừng hực dưới chân.” - Yếu tố trữ tình: “Tôi thương cái mùi rơm rạ quê mình. Nó cứ thoang thoảng rồi loang dần, quấn chặt vào sống mũi.” Hướng dẫn chấm: - Học sinh chỉ ra được ít nhất 01 yếu tố tự sự và 01 yếu tố trữ tình cho 0,5 điểm - Học sinh chỉ ra được một yếu tố tự sự hoặc trữ tình cho 0,25 điểm. |
0.5 | |
| 3 |
Từ ngữ thể hiện cảm xúc của tác giả về quê hương trong đoạn văn: nhớ, chao ôi... Hướng dẫn chấm: - Học sinh nêu được 2 từ như đáp án cho 0,5 điểm - Học sinh nêu được 1 từ cho 0,25 điểm |
0.5 | |
| 4 |
Chủ đề của văn bản: Từ việc tái hiện những kí ức thân thương với cánh đồng, mùi rơm rạ quê hương, tác giả bộc lộ tình yêu thương, nỗi nhớ mong kỉ niệm xưa, đồng thời gián tiếp bộc lộ tình yêu quê hương, đất nước. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời như đáp án cho 1,0 điểm - Học sinh trả lời được ½ yêu cầu cho 0,,5 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, đảm bảo tính hợp lí, thuyết phục vẫn cho điểm tối đa. |
1,0 | |
| 5 |
- Học sinh nêu được một trong nhũng biện pháp tu từ sau: + Biện pháp liệt kê (đồng ruộng, mồ hôi ba, niềm vui mùa lúa trúng, nỗi buồn nơi khoé mắt mẹ) + Điệp từ “mùi”. - Tác dụng: Tuỳ theo từng biện pháp tu từ, học sinh trình bày tác dụng khác nhau, song cần đáp ứng được các ý sau: + Giúp tăng sức gợi hình, gợi cảm cho văn bản; tạo nên giọng điệu tha thiết, nhớ thương. + Nhấn mạnh ý mà tác giả muốn biểu đạt: những kỉ niệm thân thương gắn với mùi rơm rạ, mùi hương rơm rạ bao hàm tất cả những mùi hương khác của quê hương, gia đình; nhấn mạnh sự khắc sâu, không phai mờ của mùi rơm rạ trong tâm trí tác giả. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được như đáp án hoặc có diễn đạt tương tự: 1,0 điểm. - Học sinh nêu được 1 trong 2 ý như đáp án hoặc có diễn đạt tương tự: 0,5 điểm. - Học sinh nêu được 1 trong 2 ý diễn đạt chung chung: 0,25 điểm. |
1,0 | |
| 6 |
Học sinh rút ra một bài học với bản thân, có lí giải hợp lí, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội Gợi ý: - Luôn gắn bó với quê hương - Yêu quê hương từ những điều bình dị, nhỏ bé nhất. Hướng dẫn chấm: - Học sinh nêu được một bài học và lí giải thuyết phục, rõ ràng cho 1,0 điểm. - Học sinh nêu được một bài học nhưng không lí giải cho 0,5 điểm. - Học sinh lí giải chưa thuyết phục, chưa rõ ràng cho 0,25 điểm. *Lưu ý: Học sinh có thể diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, đảm bảo tính hợp lí, thuyết phục vẫn cho điểm tối đa. |
1,0 | |
| 7 |
- Học sinh nêu quan điểm của bản thân: đồng tình/ không đồng tình. - Học sinh lí giải hợp lí, thuyết phục bảo vệ ý kiến của bản thân. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đủ 2 ý, lí lẽ đưa ra phù hợp, thuyết phục: 1,0 điểm. - Học sinh sinh trả lời đủ 2 ý, lí lẽ đưa ra còn chung chung, chiếu lệ: 0,75 điểm. - Học sinh nêu được 1 trong 2 ý: 0,5 điểm. |
1,0 | |
| 8 |
- Về hình thức, học sinh cần viết đúng hình thức đoạn văn, diễn đạt rõ ràng, trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả. - Về nội dung cần đảm bảo yêu cầu sau: + Nêu được ý nghĩa của kí ức tuổi thơ với cuộc sống con người. + Phân tích, lí giải được các ý nghĩa ấy. (Vì sao kí ức tuổi thơ lại mang đến những ý nghĩa đó?) Hướng dẫn chấm: - Học sinh viết đoạn văn đủ số dòng, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, đúng nội dung: 0,5 điểm. - Học sinh viết đoạn văn đủ số dòng, diễn đạt chưa lưu loát, còn mắc lỗi chính tả, đúng nội dung: 0,25 điểm. - Học sinh viết sai nội dung: 0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, hợp lí vẫn cho điểm tối đa. |
0,5 | |
| II | VIẾT | 5,0 | |
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. Hướng dẫn chấm: - Học sinh đảm bảo hình thức bài văn: 0,5 điểm. - Học sinh viết đoạn văn: 0,0 điểm. |
0,5 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận. Nội dung và nghệ thuật của văn bản Mùi rơm rạ quê mình. Hướng dẫn chấm: - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đúng vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm. |
0,5 | ||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm - Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách trên cơ sở kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. - Sau đây là một hướng gợi ý: - Giới thiệu ngắn gọn về xuất xứ, nhân vật chính và nội dung bao quát của văn bản Mùi rơm rạ quê mình. - Đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của văn bản: + Về nội dung: Tác phẩm là những kí ức, cảm xúc rất đỗi thân thương, trìu mến của tác giả về làng quê với cánh đồng, mùi rơm rạ, nồi cơm mới thơm lừng..Qua đó bộc lộ tình yêu thương, nỗi nhớ kỉ niệm xưa, đồng thời gián tiếp bộc lộ tình yêu quê hương đất nước của mình. + Về nghệ thuật: Tác phẩm chứa đựng những đặc trưng của thể loại tản văn: ngắn gọn, hàm súc, kết hợp giữa tự sự và trữ tình, kết cấu tự do, lựa hình ảnh bình dị, gần gũi, ngôn ngữ trong sáng, tự nhiên... - Bài học rút ra từ văn bản: gắn bó sâu sắc với quê hương, yêu quê hương từ những điều bình dị nhất. Hướng dẫn chấm: - Học sinh viết như yêu cầu; lập luận chặt chẽ, luận điểm sáng rõ: 2,5 điểm -3,0 điểm. - Học sinh viết như yêu cầu; lập luận tương đối chặt chẽ, luận điểm còn chưa rõ ràng: 1,75 điểm - 2,25 điểm. - Học sinh viết chung chung, sơ sài: 1,0 điểm - đến 1,5 điểm - Học sinh viết lan man, không có luận điểm: 0,25 điểm - 0,75 điểm. - Học sinh lạc đề hoặc không làm bài: 0,0 điểm |
3,0 | ||
|
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0,5 | ||
|
e. Sáng tạo: Bài viết có giọng điệu riêng; cách diễn đạt sáng tạo, văn phong trôi chảy. Hướng dẫn chấm: - Ðáp ứng được các yêu cầu: 0,5 điểm. - Ðáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm. |
0,5 | ||
| Tổng điểm | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 444
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
DÌ HẢO
Dì Hảo đã đi lấy chồng, mang theo cho người ấy tất cả lòng yêu vẫn để cho tôi. Và người ấy đã nhận tấm lòng yêu ấy, nhận lấy mà chẳng làm gì cho đáng nhận.
Người ấy không yêu dì. Thật mà! Người ấy chẳng yêu dì Hảo đâu. Mà lại còn khinh dì là khác nữa. Hắn khinh dì là đứa con nuôi, còn hắn là con dòng cháu giống. Và tuy rằng nghèo xác, hắn nhất định không làm gì. Hắn lấy vợ để cho vợ nó nuôi. Dì Hảo cũng nghĩ đúng như thế ấy; dì làm mà nuôi hắn. Người vợ đảm đang ấy kiếm mỗi ngày được hai hào, dì ăn có năm xu. Còn một hào thì hắn dùng mà uống rượu. Và dì Hảo sung sướng lắm. Và gia đình vui vẻ lắm. Nhưng sự tai ác của ông trời bắt dì đẻ một đứa con.
Đứa con chết, mà dì thì tê liệt. Mỗi ngày ngồi là một ngày không có hai hào. Người chồng muốn đó là cái lỗi của người vợ vô phúc ấy.
Nhưng mới đầu hắn chỉ nghĩ thế thôi. Là vì nhờ ít tiền dành dụm. người ta vẫn có thể đủ cả cơm lẫn rượu. Nhưng rồi rượu phải bớt đi. Đến cả cơm cũng thế. Đến lúc ấy thì hắn không nhịn được nữa. Hắn chửi bâng quơ. Hắn chửi những nhà giàu, hắn chửi số kiếp hắn, và sau cùng thì chửi vợ. Ô! Hắn chửi nhiều lắm lắm, một bữa đói rượu rồi tình cờ có một bữa rượu say.
Dì Hảo chẳng nói năng gì. Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt. Nhưng đã vội phí nước mắt làm gì nhiều đến thế. Vì dì còn phải khóc hơn thế nhiều, khi hắn chán chửi, bỏ nhà mà đi, bỏ đi bơ vơ, đau ốm, để tìm cơm rượu. Trách làm gì hắn, cái con người bắt buộc phải tàn nhẫn ấy? Hắn phải ăn, phải uống, phải vui thú, đó là đời của hắn. Dì Hảo què liệt không còn những cái ấy để mà cho. Không, dì có trách chi con người tàn nhẫn ấy. Cũng như dì đã không trách bà tôi đã làm ngơ không cấp đỡ cho dì. Bà tôi có còn giàu như trước nữa đâu? Người đã già, đã ốm yếu, và khổ cực thay! Đã nghèo như lúc còn hăm hai. Cái cơ nghiệp người gây dựng thầy tôi buôn bán thua lỗ, chúng tôi học hành tổn phí nhiều, đã tan tác đi theo gió bốn phương. Người chỉ có thể đem đến cho dì Hảo mỗi ngày một xu quà, và rất nhiều nước mắt. Và rất nhiều lời than thở.
(Trích Dì Hảo, Nam Cao, NXB Văn học, 2017, tr. 207, 208)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn trích.
Câu 2. Chỉ ra những từ ngữ được sử dụng để diễn tả tâm trạng của dì Hảo trong đoạn trích.
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ.
Câu 4. Điểm nhìn từ người kể chuyện có sự chuyển dịch như thế nào? Nêu tác dụng của sự chuyển dịch điểm nhìn đó.
Câu 5. Anh/ Chị có đồng tình với thái độ cam chịu, nhẫn nhịn của dì Hảo đối với chồng không? Vì sao? (Trình bày khoảng 5- 7 dòng)
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật Dì Hảo qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tình cảm của người con trong bài thơ sau:
Trông ra bờ ruộng năm nào
Mưa bay trắng cỏ,cào cào cánh sen
Mẹ tôi nón lá bước lên
Mạ non đầu hạ, trăng liềm cuối thu
Quanh quanh vẫn một mảnh bờ
Bấy nhiêu toan tính đến giờ chưa yên
Mẹ tôi gạt cỏ bước lên
Cỏ dày, cây lúa phải chen nhọc nhằn
Xòe tay tính tháng tính năm
Tính người ? Nào biết xa xăm cõi người
Gié thơm ai đã gặt rồi
Đồng quang bóng mẹ nắng nôi một mình ….
(Trông ra bờ ruộng, Hữu Thỉnh, in trong Thơ Hữu Thỉnh, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1994).
Câu 2. (4,0 điểm)
Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) cho biết, từ ngày 28/10-3/11/2024, Cục ghi nhận và đánh giá có 3 thủ đoạn lừa đảo được các đối tượng sử dụng nhiều để đánh cắp thông tin, chiếm đoạt tài sản của người dùng Việt Nam. Trước đó, tháng 8/2024, cơ quan này đã công bố 24 hình thức lừa đảo trực tuyến nhằm giúp bạn đọc nhận biết các dấu hiệu, đối tượng nhắm đến và biện pháp phòng tránh cho từng chiêu thức lừa đảo này.
(https://nhandan.vn/ngan-chan-nan-danh-cap-thong-tin-ca-nhan-tren-moi-truong-mang-post843914.html)
Là người trẻ sử dụng rất nhiều mạng xã hội, anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) thể hiện suy nghĩ của bản thân về việc tự bảo vệ mình trước những thông tin xấu và những lừa đảo trên mạng internet hiện nay.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC HIỂU | 4.0 | |
| 1 |
Ngôi kể: Truyện được kể theo ngôi thứ ba. Hướng dẫn chấm: - Trả lời được như đáp án: 0,5 điểm - Trả lời sai/ Không trả lời: 0,0 điểm |
0.5 | |
| 2 |
Những từ ngữ được sử dụng để diễn tả tâm trạng Dì Hảo: nghiến chặt răng, khóc, nấc, thổ ra,… Hướng dẫn chấm: - Trả lời đúng 3 - 4 tâm trạng: 0,5 điểm - Trả lời đúng 1 - 2 tâm trạng: 0,25 điểm |
0.5 | |
| 3 |
- Biện pháp tu từ điệp tăng tiến: Điệp từ: Khóc - Hiệu quả: + Tăng tính gợi hình, gợi cảm. + Nhấn mạnh nỗi bất hạnh, đau đớn, tủi nhục trước kiếp sống cùng cực của Dì Hảo. Hướng dẫn chấm: - Trả lời được từ ngữ có chứa phép tu từ: 0,5 điểm - Trả lời được tác dụng về mặt nghệ thuật: 0,25 điểm - Trả lời được tác dụng về mặt nội dung: 0,25 điểm HS có cách diễn đạt tương đương vẫn cho điểm tối đa. |
1.0 | |
| 4 |
- Điểm nhìn của tác giả được chuyển sang điểm nhìn của dì Hảo khi viết về những bất hạnh trong cuộc đời dì sau khi dì lấy chồng. - Việc thay đổi điểm nhìn đã khiến cho câu chuyện trở nên có sức thuyết phục hơn, chân thực hơn, cũng như làm cho độc giả có thể đồng cảm với những đau đớn, khó khăn mà nhân vật đã phải trải qua. Hướng dẫn chấm: - Hs trình bày, nhận xét ngắn gọn, tinh tế, sâu sắc: 0,75 - 1,0 điểm - HS trình bày, nhận xét chung chung, sơ sài: 0,25 - 0,5 điểm |
1.0 | |
| 5 |
HS có thể đồng tình, không đồng tình, hoặc vừa đồng tình, vừa không đồng tình. Lí giải hợp lí, thuyết phục. Tham khảo: - Đồng tình vì việc nuôi chồng, nhẫn nhịn vì chồng, vì con được xem là chuẩn mực của người phụ nữ trong xã hội cũ. - Không đồng tình vì khi nhẫn nhịn dì Hảo càng bị chồng khinh rẻ, khiến bản thân đau buồn và không tìm được lối thoát cho tâm trí của mình. - Hoặc vừa đồng tình vừa không đồng tình với thái độ nhẫn nhịn, cam chịu của dì Hảo đối với chồng. Hướng dẫn chấm: - HS trình bày cảm nhận của cá nhân ngắn gọn nhưng tinh tế, sâu sắc: 0,75 - 1,0 điểm - HS trình bày cảm nhận của cá nhân chung chung, sơ sài: 0,25 - 0,5 điểm |
1.0 | |
| II | VIẾT | 6.0 | |
| 1 |
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Nam Cao qua đoạn trích ở phần Đọc hiểu. |
2.0 | |
|
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Nam Cao qua đoạn trích. |
0.25 | ||
|
c. Viết được đoạn văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau: - Miêu tả, khắc họa sâu sắc, tỉ mỉ, chân thực mọi biểu hiện của nỗi đau đớn cùng cực trong kiếp sống tủi nhục của Dì Hảo: Dì nghiến chặt răng để cho khỏi khóc nhưng mà dì cứ khóc. Chao ôi! Dì Hảo khóc. Dì khóc nức nở, khóc nấc lên, khóc như người ta thổ. Dì thổ ra nước mắt… - Sử dụng nhiều thủ pháp, nhiều phương tiện để miêu tả tâm lý nhân vật: phép điệp, so sánh, tăng tiến, ngôn ngữ miêu tả tưởng chừng khách quan, lạnh lùng nhưng đầy thương xót. -> Ngòi bút bậc thầy trong việc miêu tả tâm lí nhân vật của Nam Cao. |
1.0 | ||
|
d. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0.25 | ||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,25 điểm. |
0.25 | ||
| 2 |
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tinh thần lạc quan trong cuộc sống. |
4.0 | |
|
a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận Đảm bảo yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn NLXH. |
0.25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Ý nghĩa của sự lạc quan trong cuộc sống. |
0.5 | ||
|
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: * Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Tinh thần lạc quan của con người. * Thân bài: - Giải thích: Lạc quan: là việc con người luôn suy nghĩ tích cực, cảm nhận được niềm vui, những điều ý nghĩa của cuộc sống. Người lạc quan là những người luôn vui vẻ, biết tìm niềm vui, niềm hạnh phúc cho cuộc sống, luôn yêu đời và thấy cuộc đời đáng sống. - Biểu hiện của người sống lạc quan: + Có kế hoạch, mục tiêu, lí tưởng sống cho bản thân. + Biết hài lòng về những gì bản thân mình đang có, cố gắng, nỗ lực vươn lên để bản thân ngày càng tốt đẹp hơn. + Trước mỗi khó khăn thử thách, người lạc quan luôn giữ vững được tinh thần, tìm cách vượt qua một cách tốt nhất. - Ý nghĩa của tinh thần lạc quan: + Lạc quan giúp con người sống vui vẻ hơn, tận hưởng được nhiều vẻ đẹp hơn của cuộc sống, giúp cho cuộc sống muôn màu sắc hơn. + Người lạc quan luôn truyền được năng lượng tích cực cho người khác. + Tinh thần lạc quan vô cùng quan trọng, cùng với ý chí, lạc quan sẽ giúp con người đến gần với thành công hơn. - Mở rộng, trao đổi quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác. * Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận. Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật. |
2.5 | ||
|
d. Diễn đạt Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. |
0.25 | ||
|
đ. Sáng tạo Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: - HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận. - Đáp ứng được 02 yêu cầu trở lên: 0,5 điểm. |
0.5 | ||
| TỔNG ĐIỂM (I + II) | 10.0 | ||
ĐỀ ÔN TẬP KIỂM TRA HỌC KÌ I
MÃ ĐỀ: 999
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
ANH XẨM(1)
Nguyễn Công Hoan(2)
Từ chiều, lại bắt đầu trở rét.
Gió.
Mưa.
Não nùng.
Đường vắng ngắt. Chưa đến tám giờ mà đường đã vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải, tia ra hai bên cánh gà hai dòng khói thuốc lá. Lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng. Thật là cả một đụn vải, chỉ hở có cái mặt. Trên đầu một cái mũ tủm hum xuống đến mi, quanh cổ, một cuộn khăn len dầy cộm. Rồi áo, quần, giầy, bít tất, găng tay, có bao nhiêu thứ để chống nhau với rét, đều quện cả vào người xù xù.
Mưa như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ, trắng xa. Xung quanh ngọn lửa điện đẫm lệ dây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Gió giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường lăn theo nhau rào rào. Hơi lạnh thấm buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên.
Nhưng một giọng hát ảo não xen lẫn vào tiếng gió.
Hội chùa Thầy anh em ơi còn đương lúc đua chen,
Hễ nhanh chân thì tới, chứ ươn hèn thì í xa.
Dưới mái hàng nước đầu ngã ba, một anh xẩm đương lắc lư, nghêu cổ lên mà hát.
Anh ngồi trên manh chiếu, trước cái thau sắt tây thủng, một đùi ghếch lên mặt đàn. Tay nắm cần, tay bật dây, anh uốn cung đàn trầm bổng theo tiếng hát khàn khàn. Cái mũ dạ, trơn từ đỉnh đến ria, mềm oặt theo khuôn đầu, che cho anh khỏi lạnh gáy. Nhưng cái áo tây vàng rộng thùng thình không giữ nổi hơi rét cắt da. Mặt anh xám lại.
(Lược một đoạn: Trong tiết trời lạnh cắt da thịt, mưa như rây bột, phố xá vắng ngắt, anh xẩm vừa đánh đàn vừa hát, anh dồn hết sức lực của mình ra mà hát, hát hết bài này đến bài kia, hát từ điệu này sang điệu khác. Thỉnh thoảng, anh dừng hát, kêu gọi mọi người thương tình cho anh ít đồng kiếm bữa ăn qua ngày.)
Thau anh vẫn không có một tiếng vang động. Một xu cũng chẳng có. Một trinh to cũng chẳng có. Một trinh con cũng chẳng có.
Anh càng hết sức để hát, để đàn, và để… không ai nghe.
Bởi vì…
Đường càng vắng ngắt. Thỉnh thoảng, những chiếc xe cao-su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải, lại thỉnh thoảng một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.
Bởi vì…
Mưa càng như rây bột, như chăng lưới. Phố xá lờ mờ trắng xoá. Xung quanh ngọn lửa điện đẫm lệ, dây nước loáng sáng thành một quầng vàng tròn. Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Bởi vì…
Gió vẫn giật từng hồi. Lá vàng trút xuống mặt đường, lăn theo nhau rào rào. Hơi lạnh thấu buốt đến tận xương. Cây và cột đèn rú lên.
Nhưng anh xẩm có trông thấy đâu cảnh ấy.
Anh lại nói:
- Các ông các bà bớt chút ít cho cháu kiếm bữa gạo.
Ông nào? Bà nào? Quanh anh nào có ai?
Song, anh vẫn cứ hát, hát một mình.
- Anh, anh cùng em, có giời có giời xui khiến
Cho chúng ta dịp này.
Rồi lại kể chuyện Sài Gòn:
Anh tiếc cho cô mình mơn mởn đương tơ,
Buồng không lạnh ngắt đương chờ đợi ai.
Và thỉnh thoảng lại giục:
- Các ông các bà thương kẻ khó, các ông các bà ơi.
Anh tưởng đông người đứng nghe lắm.
Chứ biết đâu, xung quanh anh, gió vẫn giật từng hồi, lá vàng trút xuống mặt đường, lăn theo nhau rào rào.
Mưa như rây bột, như chăng lưới. Đường bóng nhoáng như mặt hồ lặng sóng, chiếu lộn những vệt ánh đèn dài.
Đường vắng ngắt. Thỉnh thoảng những chiếc xe cao-su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải. Lại thỉnh thoảng, một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.
Anh cứ hát. Hết sức hát. Gò ngực mà hát. Há miệng to mà hát. Hát như con cuốc kêu thương.
- Ông giăng lên cao, ông giăng xuống thấp, ông giăng lẩn bóng chuối, chứ ông giăng lại í a mờ.
Và khi đã hiến hết tất cả các bài anh thuộc, anh ngồi im lặng để chờ và để nghe. Sau hết, sờ tay vào lòng thau không để vét.
Rồi anh run cầm cập, xếp thau, ôm đàn, cuốn chiếu, cầm gậy, đứng dậy, thong thả lần lối đi.
Gió.
Mưa.
Não nùng.
(Tuyển Tập Nguyễn Công Hoan II - NXB Văn học, tr. 321-324)
(1) Truyện ngắn “Anh xẩm” của Nguyễn Công Hoan được viết 1936, là một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông viết về hoàn cảnh nghèo khổ của người dân lao động trong xã hội xưa. Tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.
(2) Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977), quê ở Hưng Yên, là tác giả của trên 200 truyện ngắn và gần 30 truyện dài, truyện vừa với nghệ thuật đặc sắc và độc đáo, Nguyễn Công Hoan là một trong những ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam thời kỳ 1930- 1945.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Chỉ ra phương thức biểu đạt chính của văn bản.
Câu 2: Xác định ngôi kể của văn bản.
Câu 3: Nêu ý nghĩa của chi tiết “Đường vắng ngắt. Thỉnh thoảng những chiếc xe cao su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải. Lại thỉnh thoảng, một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng” được nhắc lại nhiều lần trong văn bản trên.
Câu 4: Nhận xét tình cảm của tác giả đối với nhân vật anh xẩm.
Câu 5: Từ văn bản trên, hãy rút ra một bài học có ý nghĩa nhất đối với anh/chị.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về hoàn cảnh sống của nhân vật anh xẩm ở ngữ liệu Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Từ truyện ngắn “Anh Xẩm” (Nguyễn Công Hoan), anh/chị hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực của con người trong cuộc sống.
HƯỚNG DẪN CHẤM
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|---|---|---|---|
| I | ĐỌC – HIỂU | 4,0 | |
| 1 |
Phương thức biểu đạt chính: Tự sự Hướng dẫn chấm - Trả lời như đáp án: 0,5 điểm - Trả lời sai/không trả lời; trả lời từ 02 phương thức biểu đạt trở lên: 0,0 điểm |
0,5 | |
| 2 |
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba Hướng dẫn chấm - Trả lời như đáp án: 0,5 điểm. - Trả lời sai/không trả lời: 0,0 điểm |
0,5 | |
| 3 |
Chi tiết “Đường vắng ngắt. Thỉnh thoảng những chiếc xe cao su kín mít như bưng, lép nhép chạy uể oải. Lại thỉnh thoảng, một người đi lén dưới mái hiên, run rẩy, vội vàng.” được nhắc lại nhiều lần có ý nghĩa: - Làm nổi bật không gian đường phố vắng lặng, tĩnh mịch, giá lạnh. - Nhấn mạnh sự lẻ loi, cô độc, vất vả của anh xẩm trong cuộc mưu sinh. Hướng dẫn chấm - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương tự: 1,0 điểm - Trả lời được ½ số ý: 0,5 điểm - Trả lời sai/không trả lời: 0,0 điểm - Linh hoạt ở những thang điểm còn lại. |
1,0 | |
| 4 |
Nhận xét tình cảm của tác giả đối với nhân vật anh xẩm trong truyện: Đó là tình cảm chân thành, sâu sắc xuất phát từ sự thương cảm, xót xa của tác giả đối với anh xẩm nghèo khổ, tật nguyền nhưng khát vọng sống mãnh liệt và cố gắng mưu sinh bằng sức lao động chân chính của bản thân. Hướng dẫn chấm - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm - Trình bày được ½ số ý: 0,5 điểm - Trả lời sai/ không trả lời: 0,0 điểm - Linh hoạt ở những thang điểm còn lại |
1,0 | |
| 5 |
- Gợi ý: Rút ra được một trong những bài học sau: + Phải tự mưu sinh, không dựa dẫm, không ỷ lại vào người khác. + Phải luôn cố gắng, nỗ lực trong cuộc sống. + Sống có lòng nhân ái, biết giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh + ... Hướng dẫn chấm - Trả lời như gợi ý của đáp án hoặc nêu bài học khác phù hợp với văn bản: 1,0 điểm - Trả lời được bài học nhưng diễn đạt chưa rõ ý, còn lủng củng: 0,5 điểm - Trả lời sai/ không trả lời: 0,0 điểm - Linh hoạt ở các thang điểm còn lại |
1,0 | |
| II | VIẾT | 6,0 | |
| 1 |
Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh/chị về hoàn cảnh sống của nhân vật anh xẩm ở ngữ liệu Đọc hiểu. |
2,0 | |
|
a. Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: Mở đoạn giới thiệu được vấn đề, thân đoạn triển khai được vấn đề, kết đoạn đánh giá được vấn đề. Hướng dẫn chấm: - Đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: 0,25 điểm - Không đảm bảo cấu trúc đoạn văn nghị luận: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Cảm nhận về hoàn cảnh sống của nhân vật anh xẩm. Hướng dẫn chấm: - Xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Xác định sai vấn đề nghị luận: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giới thiệu tác giả, tác phẩm; hoàn cảnh sống của anh xẩm. Hướng dẫn chấm: - Giới thiệu được vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Không giới thiệu được vấn đề nghị luận hoặc giới thiệu lạc sang một vấn đề khác: 0,0 điểm. * Triển khai vấn đề nghị luận: Cần đảm bảo các ý - Hoàn cảnh sống tội nghiệp, đáng thương + Cơ thể tật nguyền; + Khó khăn, cơ cực, vất vả: dùng tiếng hát mưu sinh giữa thời tiết khắc nghiệt; dù nỗ lực hết sức nhưng không nhận được lòng từ tâm của người đời. - Tình cảm của nhà văn dành cho anh xẩm. Hướng dẫn chấm: - Lựa chọn thao tác lập luận phù hợp, đảm bảo được 01 trong 02 ý trên, văn trôi chảy, có cảm xúc: 0,5 điểm - Lựa chọn thao tác lập luận phù hợp, đảm bảo được 01 trong 02 ý trên; văn còn lủng củng/ kể lại tất cả các sự việc có liên quan đến nhân vật anh xẩm: 0,25 điểm - Viết một đoạn không rõ ý hoặc lạc sang vấn đề khác: 0,0 điểm * Kết thúc vấn đề nghị luận: Đánh giá hoàn cảnh sống của nhân vật Hướng dẫn chấm: - Đánh giá được vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Không đáp ứng được yêu cầu trên: 0,0 điểm |
0,5 | ||
|
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: - Đáp ứng được các yêu cầu trên: 0,25 điểm - Không đáp ứng được các yêu cầu trên: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: - Đáp ứng được 01 trong 02 yêu cầu trên: 0,25 điểm - Không đáp ứng được các yêu cầu trên: 0 điểm |
0,25 | ||
| 2 |
Viết một bài văn trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực của con người trong cuộc sống. |
4,0 | |
|
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: Mở bài giới thiệu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài đánh giá được vấn đề. Hướng dẫn chấm: - Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0,25 điểm - Không đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự nỗ lực của con người trong cuộc sống. Hướng dẫn chấm: - HS xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25 điểm - HS xác định chưa đúng hoặc xác định sai vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm: Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; đảm bảo các yêu cầu sau: * Giới thiệu vấn đề nghị luận: Giới thiệu tác giả Nguyễn Công Hoan, tác phẩm “Anh xẩm” và sự nỗ lực của con người trong cuộc sống. Hướng dẫn chấm: - Giới thiệu được vấn đề nghị luận: 0,5 điểm - Giới thiệu chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Giới thiệu sai vấn đề nghị luận: 0,0 điểm * Triển khai vấn đề nghị luận: Cần đảm bảo các ý sau: - Sự nỗ lực trong truyện ngắn “Anh xẩm” của Nguyễn Công Hoan: trong thời tiết khắc nghiệt mưa gió, rét buốt, giữa đêm tối vắng người, anh xẩm vẫn cố gắng hát để mưu sinh. Đó là sự cố gắng, nỗ lực kiếm sống bằng sức lao động chân chính của bản thân. - Bàn về sự nỗ lực của con người trong cuộc sống: + Giải thích: Nỗ lực là sự cố gắng, quyết tâm làm việc hết mình để đạt được kết quả mong muốn. Đây là quá trình không ngừng nghỉ, vượt qua những trở ngại và khó khăn để tiến về phía trước. + Bàn luận: • Biểu hiện: Không ngại khó, ngại khổ, luôn cố gắng vươn lên; kiên định trong suy nghĩ của bản thân, có ước mơ và cố gắng theo đuổi những mục tiêu mình đề ra. • Ý nghĩa: Giúp ta có sức mạnh vượt qua khó khăn, thử thách và hướng đến những điều tốt đẹp hơn; đạt được những kế hoạch, mục tiêu mà bản thân đặt ra; có được những mối quan hệ xã hội tốt đẹp. (Đưa dẫn chứng hợp lí) - Mở rộng: + Ca ngợi những người có cố gắng nỗ lực trong cuộc sống. + Phê phán những người lười biếng, thiếu cố gắng. Hướng dẫn chấm: - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng; đáp ứng được 2/3 số ý, trong đó phải có được 01 ý ở phần bàn luận: 1,75– 2,0 điểm - Lập luận khá chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng nhưng dẫn chứng chưa tiêu biểu; đáp ứng được ½ số ý, trong đó phải có được 01 ý ở phần bàn luận: 1,25 – 1,5 điểm - Lập luận tương đối chặt chẽ; lí lẽ chưa xác đáng, chưa liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận; dẫn chứng chưa phù hợp; các ý thể hiện chưa được rõ ràng: 0,75 – 1,0 điểm - Lập luận không chặt chẽ, không thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, không liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có dẫn chứng hoặc dẫn chứng không phù hợp; thiếu nhiều ý, đặc biệt là các ý ở phần bàn luận: 0,25 – 0,5 điểm - Bài làm lạc sang một vấn đề khác: 0,0 điểm * Kết thúc vấn đề nghị luận: - Sự nỗ lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cuộc sống mỗi người. - Bài học: Không ngừng học hỏi và cố gắng, nỗ lực từng ngày; đặt ra cho bản thân những mục tiêu và từng bước thực hiện; có cái nhìn lạc quan, tin tưởng vào tương lai,... Hướng dẫn chấm: - Đánh giá được vấn đề nghị luận: 0,5 điểm - Đánh giá chưa đầy đủ vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - Không đáp ứng được yêu cầu trên: 0,0 điểm |
2,0 | ||
|
d. Chính tả, ngữ pháp: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt. Hướng dẫn chấm: - Đáp ứng được các yêu cầu trên: 0,25 điểm - Không đáp ứng được yêu cầu trên: 0,0 điểm |
0,25 | ||
|
e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Hướng dẫn chấm: - Đáp ứng được 01 trong những yêu cầu trên: 0,25 điểm - Không đáp ứng được các yêu cầu trên: 0,0 điểm |
0,25 | ||
| TỔNG | 10,0 | ||