Đề tham khảo kiểm tra HK2 - Ngữ văn 10 (Nghị luận văn học - Nghị luận xã hội) năm 2025 - Cánh diều

Web Publisher User

ĐỀ: 1

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản:

(1)Hãy nói lời yêu thương một cách thật lòng với mọi người xung quanh, đặc biệt là với người thân. Vì tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt. Tình yêu thương đưa ta vượt lên trên những điều tầm thường. Tình yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau. Rất nhiều người hối hận vì chưa kịp nói lời yêu thương với người thân khi người thân của họ còn sống. Vì vậy, đừng ngại nói lời yêu thương với những người mà ta quý mến họ.
            (2)Tất cả mọi người đều cần có tình yêu thương. Muốn có tình yêu thương thì trước hết, ta phải trao tặng tình yêu thương cho thế giới. Một đứa trẻ cần rất nhiều tình thương, mà người đời không phải ai cũng có đủ tình thương dành cho chúng. Có những đứa trẻ trở nên hư hỏng cũng vì thiếu tình thương. Con người ngày nay có rất nhiều thứ, song có hai thứ mà họ không có đó là sự bình an và tình yêu thương. Bình an cũng cần thiết như không khí để thở, nước để uống và thức ăn hàng ngày. Phải sống sao cho lương tâm của mình không bị cắn rứt.                           

                              (Nguyễn Hữu Hiếu, Sức mạnh của tình yêu thương, NXB Trẻ, 2014, tr.92)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận của văn bản.

Câu 2. Xác định luận điểm trong đoạn (1) của văn bản.

Câu 3.  Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: Vì tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt.

Câu 4. Thông điệp mà anh/chị tâm đắc nhất trong văn bản là gì?  Vì sao?

Câu 5. Ý nghĩa của câu văn  “Tình yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau giúp anh/ chị nhận thức được điều gì trong cuộc sống?

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải có bản lĩnh đối với thanh niên hiện nay.

Câu 2. (4,0 điểm)

Hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn).

HƯƠNG THẦM

                                                Phan Thị Thanh Nhàn[1]

Cửa sổ hai nhà cuối phố

Không hiểu vì sao không khép bao giờ.

Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp

Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa.

Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay,

Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm,

Bên ấy có người ngày mai ra trận

Họ ngồi im không biết nói năng chi

Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,

Nào ai đã một lần dám nói?

Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối

Anh không dám xin,

Cô gái chẳng dám trao

Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao

Không giấu được cứ bay dịu nhẹ.

Cô gái như chùm hoa lặng lẽ

Nhờ hương thơm nói hộ tình yêu.

(Anh vô tình anh chẳng biết điều

Tôi đã đến với anh rồi đấy...)

Rồi theo từng hơi thở của anh

Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực

Anh lên đường

Hương thơm sẽ theo đi khắp

Họ chia tay

Vẫn chẳng nói điều gì

Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

(In trong Việt Nam-những bài thơ phổ nhạc, NXB Quân đội Nhân dân, 2000, tr.142-143)

 


 

LỜI GIẢI THAM KHẢO – ĐỀ 1

 

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận của văn bản.

  • Trả lời: Vấn đề nghị luận của văn bản là sức mạnh, sự cần thiết của tình yêu thương và việc bày tỏ tình yêu thương trong cuộc sống.

Câu 2. Xác định luận điểm trong đoạn (1) của văn bản.

  • Trả lời: Luận điểm trong đoạn (1) của văn bản: Tình yêu thương có sức mạnh to lớn và con người cần mạnh dạn bày tỏ tình yêu thương với những người mình quý mến.
    • (Giải thích thêm: Luận điểm này được thể hiện qua việc tác giả nêu lên những tác động tích cực của tình yêu thương và lời kêu gọi "đừng ngại nói lời yêu thương").

Câu 3. Phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn sau: Vì tình thương yêu có sức mạnh rất lớn, nó giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt.

  • Trả lời:
    • Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng qua các cụm từ: "giúp người khác vững tin hơn trong cuộc sống, giúp người khác vượt qua gian khổ, nó cảm hóa và làm thay đổi những người sống chưa tốt".
    • Hiệu quả:

Nhấn mạnh, làm rõ những tác động to lớn, đa dạng và cụ thể của tình yêu thương đối với con người và cuộc sống.

Giúp câu văn giàu hình ảnh, tăng sức gợi cảm, làm cho lập luận trở nên chặt chẽ, thuyết phục hơn về sức mạnh của tình yêu thương.

Tạo nhịp điệu cho câu văn, khiến lời văn thêm sinh động, hấp dẫn người đọc.

Câu 4. Thông điệp mà anh/chị tâm đắc nhất trong văn bản là gì? Vì sao?

  • Trả lời:
    • Thông điệp mà em tâm đắc nhất trong văn bản là: "Đừng ngại nói lời yêu thương với những người mà ta quý mến họ."
    • Vì sao:

Cuộc sống vốn ngắn ngủi và đầy những bất ngờ, việc bày tỏ tình cảm kịp thời sẽ giúp chúng ta không phải hối tiếc khi người thân, bạn bè không còn bên cạnh.

Lời yêu thương là liều thuốc tinh thần quý giá, nó không chỉ mang lại niềm vui, hạnh phúc cho người nhận mà còn sưởi ấm tâm hồn người nói, giúp gắn kết các mối quan hệ trở nên bền chặt hơn.

Trong thực tế, nhiều người vì ngại ngùng, vì cho rằng không cần thiết mà bỏ lỡ cơ hội thể hiện tình cảm, để rồi sau này phải ân hận. Thông điệp này nhắc nhở mỗi người hãy dũng cảm và chủ động hơn trong việc trao đi yêu thương.

Câu 5. Ý nghĩa của câu văn “Tình yêu thương là điều quý giá nhất trên đời mà người với người có thể trao tặng nhau” giúp anh/ chị nhận thức được điều gì trong cuộc sống?

  • Trả lời: Câu văn giúp em nhận thức được những điều sau trong cuộc sống:
    • Giá trị vô song của tình yêu thương: Tình yêu thương là một giá trị tinh thần thiêng liêng, quý báu hơn mọi của cải vật chất. Nó không thể mua bán hay đo đếm bằng tiền bạc mà chỉ có thể cảm nhận và trao đi bằng cả trái tim.
    • Khả năng trao tặng và đón nhận tình yêu thương là bình đẳng: Đây là món quà mà ai cũng có thể trao đi và xứng đáng được nhận lại, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội hay hoàn cảnh.
    • Sự cần thiết của việc lan tỏa yêu thương: Để cuộc sống trở nên ý nghĩa và tốt đẹp hơn, mỗi người cần biết trân trọng, gìn giữ và chủ động lan tỏa tình yêu thương đến những người xung quanh, xây dựng một cộng đồng nhân ái.

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải có bản lĩnh đối với thanh niên hiện nay.

  • Gợi ý dàn ý:
    • Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề: sự cần thiết của bản lĩnh đối với thanh niên hiện nay.
    • Thân đoạn:
      • Giải thích "bản lĩnh": là sự vững vàng, kiên định về tư tưởng, tình cảm; là ý chí, nghị lực, dám nghĩ, dám làm, dám đối mặt với khó khăn, thử thách và chịu trách nhiệm về hành động của mình.
      • Phân tích sự cần thiết của bản lĩnh:
        • Giúp thanh niên đứng vững trước những cám dỗ, tiêu cực của xã hội hiện đại (thông tin sai lệch, lối sống thực dụng...).
        • Giúp thanh niên dám đương đầu và vượt qua khó khăn, thử thách trên con đường học tập, lập nghiệp, chinh phục ước mơ.
        • Giúp thanh niên tự tin khẳng định mình, đóng góp sức trẻ vào sự phát triển của đất nước.
        • Thiếu bản lĩnh, thanh niên dễ nản chí, bỏ cuộc, thậm chí sa ngã.
      • Nêu giải pháp rèn luyện bản lĩnh (ngắn gọn): trau dồi tri thức, rèn luyện ý chí, tham gia các hoạt động xã hội, học hỏi từ những tấm gương...
    • Kết đoạn: Khẳng định lại tầm quan trọng của bản lĩnh và lời kêu gọi thanh niên rèn luyện.
  • Bài làm tham khảo:

Trong hành trang vào đời của tuổi trẻ, bản lĩnh là một phẩm chất vô cùng cần thiết. Bản lĩnh chính là sự vững vàng về tư tưởng, là ý chí kiên định, dám nghĩ, dám làm, dám đối mặt với khó khăn và chịu trách nhiệm trước mọi quyết định của mình. Thanh niên ngày nay sống trong một xã hội phát triển nhanh chóng nhưng cũng đầy rẫy những thử thách và cám dỗ. Chính vì vậy, bản lĩnh giúp người trẻ giữ vững lập trường, không bị lung lay trước những luồng tư tưởng tiêu cực hay lối sống thực dụng, ích kỷ. Có bản lĩnh, thanh niên mới đủ dũng khí để đương đầu với nghịch cảnh, vượt qua thất bại, kiên trì theo đuổi mục tiêu và hoài bão. Hơn nữa, bản lĩnh còn là nền tảng để tuổi trẻ tự tin khẳng định giá trị bản thân, dám dấn thân, cống hiến sức lực và trí tuệ cho cộng đồng, cho đất nước. Ngược lại, thiếu đi sự vững vàng này, thanh niên dễ trở nên yếu đuối, bi quan, dễ bị lôi kéo vào những con đường sai trái. Do đó, mỗi người trẻ cần không ngừng học tập, rèn luyện, trau dồi tri thức và ý chí để xây dựng cho mình một bản lĩnh vững vàng, sẵn sàng đối mặt và chinh phục mọi thử thách.

Câu 2. (4,0 điểm)
Hãy viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và một số nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ Hương thầm (Phan Thị Thanh Nhàn).

  • Gợi ý dàn ý:
    • Mở bài:
      • Giới thiệu tác giả Phan Thị Thanh Nhàn và phong cách thơ nữ tính, đằm thắm.
      • Giới thiệu bài thơ "Hương thầm" – một tác phẩm tiêu biểu, ghi dấu ấn bởi vẻ đẹp dung dị, tinh tế của một mối tình thầm lặng.
      • Nêu vấn đề nghị luận: chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ.
    • Thân bài:
      • Luận điểm 1: Chủ đề của bài thơ – Vẻ đẹp của mối tình thầm lặng, kín đáo và sự hy sinh cao cả trong chiến tranh.
        • Mối tình đơn phương, e ấp, kín đáo của cô gái ("Không hiểu vì sao không khép bao giờ", "Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay", "Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm").
        • Sự tinh tế trong cách thể hiện tình cảm: không lời nói trực tiếp mà qua những cử chỉ, hành động ý nhị ("Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi", "Anh không dám xin,/ Cô gái chẳng dám trao").
        • Tình yêu gắn liền với bối cảnh đất nước có chiến tranh ("Bên ấy có người ngày mai ra trận", "Anh lên đường"). Tình yêu thầm lặng ấy còn mang vẻ đẹp của sự hy sinh, lo lắng cho người ra đi.
        • Sức sống mãnh liệt, bền bỉ của tình yêu thầm kín ấy, hóa thành hương thơm theo mãi bước người đi ("Mà hương thầm thơm mãi bước người đi").
      • Luận điểm 2: Những nét đặc sắc về nghệ thuật.
        • Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, giàu sức gợi: "cửa sổ", "cây bưởi", "chùm hoa", "chiếc khăn tay". Những hình ảnh này tạo nên một không gian thơ mộng, thân quen.
        • Biểu tượng "hương thầm": Đây là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. "Hương thầm" (hương hoa bưởi) không chỉ là hương thơm cụ thể mà còn là biểu tượng cho tình yêu thầm kín, trong sáng, tinh tế nhưng bền chặt, sâu sắc của cô gái. Nó vô hình nhưng lan tỏa, len lỏi vào tâm hồn.
        • Giọng điệu thơ: Nhẹ nhàng, tha thiết, có chút bâng khuâng, xao xuyến, phù hợp với tâm trạng e ấp, ngập ngừng của nhân vật trữ tình và mạch cảm xúc của bài thơ.
        • Ngôn ngữ thơ: Trong sáng, giản dị, hàm súc, giàu chất trữ tình. Sử dụng từ láy gợi cảm ("ngan ngát", "ngập ngừng", "dịu nhẹ", "lặng lẽ").
        • Kết cấu tự sự kết hợp trữ tình: Bài thơ như một câu chuyện nhỏ được kể lại bằng giọng điệu tâm tình, vừa có diễn biến sự việc, vừa bộc lộ cảm xúc tinh tế.
        • Yếu tố bất ngờ: Câu thơ trong ngoặc đơn "(Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy...)" như một lời tự ý thức, một lời thổ lộ thầm kín của cô gái, hé lộ chiều sâu tình cảm.
      • Đánh giá:
        • Thành công trong việc thể hiện một chủ đề quen thuộc (tình yêu) bằng một cách nói mới mẻ, tinh tế.
        • Sự hòa quyện giữa nội dung và nghệ thuật, tạo nên sức hấp dẫn, lay động lòng người.
        • Giá trị nhân văn: ca ngợi vẻ đẹp của tình yêu trong sáng, thủy chung và sự hy sinh thầm lặng.
    • Kết bài:
      • Khẳng định lại giá trị của bài thơ "Hương thầm" trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.
      • Nêu cảm nghĩ, ấn tượng sâu sắc của bản thân về bài thơ.
  • Bài làm tham khảo:

Phan Thị Thanh Nhàn là một gương mặt nữ tiêu biểu của thơ ca Việt Nam hiện đại, với giọng thơ đằm thắm, dịu dàng và sâu lắng, chạm đến những rung động tinh tế của tâm hồn. "Hương thầm", sáng tác năm 1969, là một trong những thi phẩm đặc sắc nhất của bà, ghi lại một thoáng xao xuyến, một mối tình câm lặng mà nồng nàn, ý vị. Bài thơ không chỉ cuốn hút người đọc bởi câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng, kín đáo mà còn ở những thành công nghệ thuật đặc sắc, góp phần làm nên sức sống bền bỉ của tác phẩm.

Trước hết, "Hương thầm" đã thể hiện một cách tinh tế chủ đề về vẻ đẹp của mối tình thầm lặng, đơn phương và trong sáng trong bối cảnh chiến tranh gian khó. Đó là câu chuyện của "đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp", với những rung động đầu đời e ấp, không lời. Tình cảm của cô gái được hé lộ qua những chi tiết đầy ý nhị: "Cửa sổ hai nhà cuối phố/ Không hiểu vì sao không khép bao giờ", một sự ngóng trông vô hình mà thường trực. Đặc biệt, khi người bạn trai sắp "ngày mai ra trận", tình cảm ấy càng trở nên cụ thể hơn qua hành động "Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay" rồi "ngập ngừng sang nhà hàng xóm". Cái ngập ngừng ấy chính là biểu hiện của sự rụt rè, bẽn lẽn, một nét tâm lý rất thật của người con gái đang yêu. Tình yêu ấy hoàn toàn thầm lặng, không một lời tỏ bày trực tiếp: "Họ ngồi im không biết nói năng chi/ Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi,/ Nào ai đã một lần dám nói?". Chàng trai "không dám xin", cô gái "chẳng dám trao", chỉ có "mùi hương đầm ấm thanh tao" của hoa bưởi làm sứ giả cho những điều không thể nói thành lời. Hương thơm ấy không thể "giấu được cứ bay dịu nhẹ", như chính tình yêu dù kín đáo đến đâu cũng có cách lan tỏa riêng. Tình yêu ấy không chỉ đẹp bởi sự trong sáng, e ấp mà còn cao cả bởi nó gắn liền với sự chia ly vì Tổ quốc, với hình ảnh người lính lên đường. Dẫu không lời, không hẹn ước, tình yêu ấy vẫn theo bước chân người ra trận, trở thành một "hương thầm thơm mãi bước người đi", một kỷ niệm, một nguồn động viên tinh thần vô giá.

Thành công của "Hương thầm" trong việc thể hiện chủ đề trên không thể tách rời những đặc sắc nghệ thuật tinh tế. Nổi bật nhất là việc xây dựng hình ảnh thơ giản dị, gần gũi mà giàu sức gợi. Những "cửa sổ", "cây bưởi sau nhà", "chiếc khăn tay" đều là những vật quen thuộc, đời thường nhưng qua ngòi bút của Phan Thị Thanh Nhàn, chúng trở nên thơ mộng, chứa đựng bao xao xuyến. Đặc biệt, hình tượng "hương thầm" – hương hoa bưởi – là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nó không chỉ là mùi hương cụ thể của loài hoa mộc mạc mà đã trở thành biểu tượng cho tình yêu thầm kín, tinh tế, thanh khiết nhưng vô cùng bền bỉ và sâu sắc của cô gái. Hương thơm ấy vô hình, thoảng nhẹ nhưng lại có sức mạnh len lỏi, thấm sâu vào tâm hồn, theo mãi bước chân người đi xa.

Giọng điệu của bài thơ cũng góp phần quan trọng tạo nên sức hấp dẫn. Đó là giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, có chút bâng khuâng, xao xuyến, rất phù hợp với tâm trạng e ấp, ngập ngừng của nhân vật trữ tình và mạch cảm xúc của bài thơ. Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị nhưng hàm súc, giàu chất trữ tình. Việc sử dụng các từ láy như "ngan ngát", "ngập ngừng", "dịu nhẹ", "lặng lẽ" đã góp phần diễn tả tinh tế những trạng thái cảm xúc, những cử chỉ ý nhị của các nhân vật. Bài thơ được xây dựng theo lối kể chuyện tự sự kết hợp trữ tình, như một câu chuyện nhỏ được kể lại bằng giọng điệu tâm tình, vừa có diễn biến sự việc (cô gái giấu hoa, sang nhà bạn, cuộc chia tay không lời) vừa bộc lộ những cảm xúc tinh tế. Đặc biệt, câu thơ đặt trong dấu ngoặc đơn ở giữa bài: "(Anh vô tình anh chẳng biết điều/ Tôi đã đến với anh rồi đấy...)" như một lời độc thoại nội tâm, một sự hé lộ táo bạo mà cũng thật dễ thương của cô gái, cho thấy tình yêu ấy dù thầm lặng nhưng không hề yếu đuối.

Tóm lại, "Hương thầm" của Phan Thị Thanh Nhàn là một bài thơ hay, giàu cảm xúc và mang đậm dấu ấn nữ tính. Bằng việc khắc họa một mối tình thầm lặng, trong sáng đặt trong bối cảnh chiến tranh, cùng với những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc như biểu tượng "hương thầm", giọng điệu tâm tình, hình ảnh thơ gần gũi, tác phẩm đã thực sự chinh phục trái tim biết bao thế hệ độc giả. Bài thơ không chỉ là một kỷ niệm đẹp về một thời tuổi trẻ mà còn là một minh chứng cho vẻ đẹp vĩnh cửu của tình yêu chân thành, thầm lặng mà sâu sắc.


 

ĐỀ: 2

I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)

   Đọc đoạn trích:

            “Thành tích lớn nhất thoạt tiên là những giấc mơ. Nụ hoa chờ nở, chim chờ trong trứng và thiên thần náo động trong đỉnh cao của tâm hồn. Những giấc mơ là hạt giống của hiện thực” - James Allen. Chúng ta phải nuôi dưỡng trí tưởng tượng của mình, khả năng ước mơ....vì những người có thành tích cao từ khi lịch sử bắt đầu là những người mơ mộng, biết kết hợp mồ hôi và khát vọng để có được những đóng góp có một không hai. Leonardo de Vinci lúc 12 tuổi đã thề rằng Tôi sẽ trở thành một trong những họa sĩ vĩ đại nhất trên thế giới và một ngày nào đó, tôi sẽ sống cùng với các ông vua và đi chơi với các hoàng tử”. Khi còn nhỏ, Napoleon đã ngồi hàng giờ tưởng tượng ra cảnh mình chinh phục Châu Âu, mơ về việc lãnh đạo và điều hành quân đội của mình. Phần sau của đời ông thì lịch sử đã nói. Anh em nhà Wright biến giấc mơ của họ thành những chiếc máy bay. Henry Ford biến giấc mơ về chiếc xe hơi giá rẻ cho tất cả mọi người thành các dây chuyền sản xuất ô tô hàng loạt. Ngay khi còn nhỏ, Neil Armstrong đã mơ đến việc lập thành tích trong lĩnh vực hàng không. Vào năm 1969, anh đã trở thành người đàn ông đầu tiên bay lên mặt trăng. Mọi cái đều bắt đầu từ những giấc mơ. Hãy đứng bên giấc mơ của mình. Như một bài hát đã nói: Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật.

            (Trích Chương 3: Tâm trí của bạn, Đời thay đổi khi chúng ta thay đổi - Andrew Matthews, Dịch giả Tiến Dũng - Thuý Nga, Nhà xuất bản Trẻ, 2017)

Thực hiện các yêu cầu/Trả lời các câu hỏi:

Câu 1. Nêu lí do khiến tác giả khuyên “chúng ta phải nuôi dưỡng trí tưởng tượng của mình, khả năng ước mơ...”.

Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ có trong đoạn trích: Mọi cái đều bắt đầu từ những giấc mơ. Hãy đứng bên giấc mơ của mình. Như một bài hát đã nói: Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật”.

Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về “những người biết kết hợp mồ hôi và khát vọng để có được những đóng góp có một không hai.”?

Câu 4. Theo anh/chị, việc tác giả bắt đầu lập luận bằng cách nêu ý kiến của James Allen: Thành tích lớn nhất thoạt tiên là những giấc mơ. Nụ hoa chờ nở, chim chờ trong trứng và thiên thần náo động trong đỉnh cao của tâm hồn. Những giấc mơ là hạt giống của hiện thực” có tác dụng gì?

Câu 5. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật  không? Vì sao?

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

            Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết phải có một thái độ sống đúng đắn trong cuộc sống.

Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ sau trong tác phẩm Việt Nam quê hương ta của nhà thơ Nguyễn Đình Thị.

Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Cánh cò bay lả rập rờn

Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều

 

Quê hương biết mấy thân yêu

Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau

Mặt người vất vả in sâu

Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn

 

Đất nghèo nuôi những anh hùng

Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên

Đạp quân thù xuống đất đen

Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

 

Việt Nam đất nắng chan hoà

Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh

Mắt đen cô gái long lanh

Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung.

(Trích Bài thơ Hắc Hải, tuyển thơ Nguyễn Đình Thi)

 


 

LỜI GIẢI THAM KHẢO – ĐỀ 2

 

I. Phần Đọc hiểu (4,0 điểm)

Câu 1. Nêu lí do khiến tác giả khuyên “chúng ta phải nuôi dưỡng trí tưởng tượng của mình, khả năng ước mơ...”.

  • Trả lời: Tác giả khuyên “chúng ta phải nuôi dưỡng trí tưởng tượng của mình, khả năng ước mơ...” vì những người có thành tích cao từ khi lịch sử bắt đầu là những người mơ mộng, biết kết hợp mồ hôi và khát vọng để có được những đóng góp có một không hai.

Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ có trong đoạn trích: Mọi cái đều bắt đầu từ những giấc mơ. Hãy đứng bên giấc mơ của mình. Như một bài hát đã nói: “Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật”.

  • Trả lời: Một biện pháp tu từ có trong đoạn trích là liệt kê (các dẫn chứng: Leonardo de Vinci, Napoleon, anh em nhà Wright, Henry Ford, Neil Armstrong).
    • (Ngoài ra, có thể kể đến: ẩn dụ trong câu "Những giấc mơ là hạt giống của hiện thực", hoặc so sánh trong câu "Như một bài hát đã nói...")

Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về “những người biết kết hợp mồ hôi và khát vọng để có được những đóng góp có một không hai.”?

  • Trả lời: “Những người biết kết hợp mồ hôi và khát vọng để có được những đóng góp có một không hai” là những người không chỉ có ước mơ, hoài bão lớn lao ("khát vọng") mà còn nỗ lực, kiên trì, lao động vất vả ("mồ hôi") để biến những ước mơ đó thành hiện thực, tạo ra những thành tựu độc đáo, có giá trị to lớn, riêng biệt, chưa từng có hoặc hiếm có. Họ là những người dám nghĩ, dám làm và hành động quyết liệt để đạt được mục tiêu.

Câu 4. Theo anh/chị, việc tác giả bắt đầu lập luận bằng cách nêu ý kiến của James Allen: “Thành tích lớn nhất thoạt tiên là những giấc mơ. Nụ hoa chờ nở, chim chờ trong trứng và thiên thần náo động trong đỉnh cao của tâm hồn. Những giấc mơ là hạt giống của hiện thực” có tác dụng gì?

  • Trả lời: Việc tác giả bắt đầu lập luận bằng cách nêu ý kiến của James Allen có tác dụng:
    • Tăng tính thuyết phục và uy tín: Trích dẫn ý kiến của một người có tên tuổi (James Allen) giúp khẳng định giá trị của luận điểm sắp trình bày, tạo sự tin cậy cho người đọc.
    • Dẫn dắt vấn đề một cách tự nhiên, hấp dẫn: Câu nói của James Allen mang tính triết lý và giàu hình ảnh ("nụ hoa chờ nở", "chim chờ trong trứng", "hạt giống"), giúp khơi gợi sự tò mò, thu hút người đọc vào chủ đề của đoạn trích – tầm quan trọng của những giấc mơ.
    • Định hướng nội dung: Câu trích dẫn này đặt nền tảng cho toàn bộ lập luận của tác giả về vai trò của ước mơ như là khởi nguồn của mọi thành công.

Câu 5. Anh/chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật không? Vì sao?

  • Trả lời:
    • Em đồng tình với quan điểm của tác giả: "Nếu bạn chưa bao giờ mơ thì không có giấc mơ nào sẽ thành sự thật."
    • Vì sao:
      • Ước mơ chính là điểm khởi đầu, là mục tiêu, là nguồn cảm hứng và động lực để con người phấn đấu. Nếu không có ước mơ, con người sẽ không có phương hướng, không biết mình muốn gì và cần làm gì để đạt được điều đó.
      • Mọi thành tựu vĩ đại trên thế giới đều bắt nguồn từ những ước mơ, dù là viển vông ban đầu. Ước mơ giống như "hạt giống", cần được gieo trồng (ấp ủ) thì mới có cơ hội nảy mầm và phát triển thành "hiện thực". Không có hạt giống thì không thể có cây, cũng như không có ước mơ thì không thể có thành tựu.

II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết phải có một thái độ sống đúng đắn trong cuộc sống.

  • Bài làm tham khảo:
    Trong hành trình cuộc đời, thái độ sống đúng đắn là một yếu tố vô cùng cần thiết, quyết định phần lớn đến thành công và hạnh phúc của mỗi cá nhân. Thái độ sống đúng đắn bao gồm cách nhìn nhận tích cực, lạc quan trước mọi hoàn cảnh, sự kiên trì, nỗ lực không ngừng, lòng biết ơn, sự tôn trọng bản thân và người khác, cũng như tinh thần trách nhiệm với cộng đồng. Một thái độ sống tích cực giúp chúng ta vững vàng vượt qua khó khăn, thử thách, biến trở ngại thành cơ hội để trưởng thành. Nó còn là chìa khóa mở ra những mối quan hệ tốt đẹp, tạo dựng niềm tin và sự yêu mến từ những người xung quanh. Khi mỗi cá nhân ý thức rèn luyện một thái độ sống đúng đắn, chúng ta không chỉ tự hoàn thiện bản thân mà còn góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái hơn. Vì vậy, việc tu dưỡng và duy trì một thái độ sống đúng đắn là điều mà mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần không ngừng nỗ lực thực hiện.

Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ sau trong tác phẩm Việt Nam quê hương ta của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.
(Đoạn thơ được trích từ bài "Đất nước" của Nguyễn Đình Thi)

  • Bài làm tham khảo:

Mở bài:
Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài, một tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt thành công ở lĩnh vực thơ ca. Thơ ông thường mang đậm chất chính luận hòa quyện với cảm hứng trữ tình sâu lắng, hào sảng, thể hiện những suy tư, chiêm nghiệm về đất nước và con người. Đoạn thơ trích từ bài "Đất nước", thường được biết đến với tên gọi "Việt Nam đất nước ta ơi", là một trong những tác phẩm tiêu biểu, khắc họa vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của non sông cùng những phẩm chất cao quý của dân tộc Việt Nam.

Thân bài:
1. Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên đất nước (khổ 1):
Mở đầu đoạn thơ là một tiếng gọi tha thiết, tự hào: "Việt Nam đất nước ta ơi!". Tiếp đó, tác giả phác họa một bức tranh thiên nhiên đất nước rộng lớn, trù phú và tươi đẹp đến nao lòng: "Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn". Hình ảnh "biển lúa" mênh mông, vàng óng gợi sự no ấm, thanh bình. Câu hỏi tu từ "đâu trời đẹp hơn" không chỉ khẳng định vẻ đẹp độc đáo, không gì sánh bằng của quê hương mà còn chan chứa niềm tự hào. Bức tranh ấy càng thêm thơ mộng với hình ảnh "Cánh cò bay lả rập rờn", một nét đặc trưng của làng quê Việt Nam, gợi sự yên ả, thanh bình. Và rồi, không gian được mở rộng với tầm vóc hùng vĩ của "Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều", dãy Trường Sơn sừng sững như xương sống của Tổ quốc, chứng nhân của lịch sử.

2. Vẻ đẹp con người Việt Nam qua chiều sâu lịch sử và phẩm chất truyền thống (khổ 2, 3):
Từ vẻ đẹp thiên nhiên, mạch thơ chuyển sang khắc họa vẻ đẹp con người Việt Nam gắn liền với chiều sâu lịch sử dân tộc. Đó là một dân tộc đã trải qua "Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau", "Mặt người vất vả in sâu", "Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn". Những câu thơ gợi lên sự lam lũ, gian khổ nhưng cũng đầy kiên cường. Và chính từ mảnh đất "nghèo" ấy, từ những con người bình dị ấy đã sản sinh ra "những anh hùng". Lịch sử dân tộc là lịch sử của những cuộc đấu tranh không ngừng: "Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên/ Đạp quân thù xuống đất đen". Ý thơ khái quát sức sống mãnh liệt, tinh thần bất khuất, quật cường của dân tộc. Đặc biệt, sau chiến thắng, con người Việt Nam lại trở về với vẻ đẹp hiền hòa, nhân ái vốn có: "Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa". Đây chính là chiều sâu văn hóa, là bản chất tốt đẹp của dân tộc yêu chuộng hòa bình.

3. Vẻ đẹp tâm hồn và phẩm chất con người Việt Nam trong cuộc sống đời thường (khổ 4):
Khổ thơ cuối cùng là những nét vẽ về đất nước và con người trong cuộc sống thanh bình. "Việt Nam đất nắng chan hoà/ Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh" gợi lên một xứ sở trù phú, ấm áp, tràn đầy sức sống. Nổi bật trên nền cảnh ấy là hình ảnh người con gái Việt Nam với "Mắt đen cô gái long lanh" – một vẻ đẹp dịu dàng, tinh anh và trong sáng. Và hơn hết, đó là vẻ đẹp của phẩm chất thủy chung, son sắt trong tình yêu, một nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: "Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung".

4. Đặc sắc nghệ thuật:
Đoạn thơ sử dụng thể thơ tự do, linh hoạt, tạo nên giọng điệu vừa hào sảng, tha thiết, vừa lắng đọng, suy tư. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu hình ảnh ("biển lúa", "cánh cò", "áo nâu", "mắt đen") và có sức biểu cảm cao. Các biện pháp tu từ như câu hỏi tu từ, đối lập ("đất nghèo" – "anh hùng", "máu lửa" – "vùng đứng lên", "súng gươm" – "hiền như xưa") được vận dụng hiệu quả, làm nổi bật ý thơ. Hình tượng thơ vừa mang tính khái quát, vừa cụ thể, sinh động, dễ đi vào lòng người.

Kết bài:
Đoạn thơ "Việt Nam đất nước ta ơi" của Nguyễn Đình Thi là một khúc ca hùng tráng, một bức tranh tuyệt đẹp về đất nước và con người Việt Nam. Bằng những vần thơ giàu cảm xúc và hình ảnh, tác giả đã khơi gợi trong lòng người đọc tình yêu, niềm tự hào sâu sắc về Tổ quốc. Đoạn thơ xứng đáng là một trong những áng thơ hay nhất viết về quê hương, đất nước, mãi có sức sống bền bỉ trong tâm hồn người Việt.

 


 

ĐỀ: 3

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

DÒNG SÔNG CUỘC ĐỜI

 Cuộc đời của chúng ta cũng giống như một dòng sông vậy. Và mỗi chúng ta ngồi trên con thuyền xuôi theo dòng chảy cuộc sống. Trong khi con thuyền xuôi theo dòng nước, dòng sông cuộc đời chia thành nhiều ngã rẽ, chảy về những nẻo đường đời khác nhau. Những dòng chảy này tượng trưng cho những hướng đi khác nhau trong cuộc sống. Một số dòng chảy dẫn dắt chúng ta trở thành bác sĩ, lãnh đạo doanh nghiệp, nhà hoạt động bảo vệ môi trường, chính trị gia hoặc giáo viên. Những dòng chảy khác đưa đẩy chúng ta đến chỗ trở thành người gác cổng, dọn vệ sinh, lái xe hoặc bán vé số.

 Là một học sinh, con thuyền của bạn vẫn đang ở trong dòng chảy chính. Bạn vẫn có thể quyết định xem mình muốn trôi theo dòng chảy nào và đến bến bờ nào. Nếu mục tiêu của bạn là kinh doanh, bạn cần bắt đầu lái thuyền của mình về hướng đó. Nếu muốn trở thành bác sĩ, bạn phải chèo thuyền về một hướng khác.

 Cũng giống như dòng sông thật sự, dòng sông cuộc đời cũng có những "luồng nước" mạnh xô đẩy con thuyền của bạn ra khỏi dòng chảy mà bạn muốn đến. Những "luồng nước" này chính là những việc khiến bạn xao nhãng như những trò chơi trên máy vi tính, những đứa bạn xấu, những thói quen xấu và những chương trình tivi vô bổ. Tuy vậy, miễn là bạn tập trung vào mục tiêu của mình và đấu tranh lại "luồng nước" đó, nhất định bạn sẽ đến được nơi mình muốn đến.

Trong khi ấy, hầu hết các bạn trẻ hoàn toàn không có ý niệm gì về việc mình muốn trở thành một người như thế nào trong tương lai. Họ không biết mình đang trôi theo dòng chảy nào và cứ để mặc cho "con thuyền cuộc sống" trôi nổi bập bềnh theo dòng nước đến đâu thì đến. Nếu bạn không bắt đầu đề ra mục tiêu và định hướng ngay từ bây giờ, rất có thể bạn sẽ đi đến một nơi mà bạn không muốn chút nào.

(Trích Bí quyết Teen thành công, Adamkoo & Gary Lee, Trần Đăng Khoa & Uông Xuân Vy dịch, NXB Phụ nữ, 2020)

Thực hiện các yêu cầu dưới đây:

Câu 1 (0,5 điểm). Chỉ ra 01 thao tác lập luận được sử dụng trong đoạn văn thứ nhất.

Câu 2 (0,5 điểm). Xác định mục đích của người viết thể hiện trong văn bản trên.

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của câu khẳng định sau đây: Tuy vậy, miễn là bạn tập trung vào mục tiêu của mình và đấu tranh lại "luồng nước" đó, nhất định bạn sẽ đến được nơi mình muốn đến.

Câu 4 (1,0 điểm). Lí giải mối liên hệ giữa nhan đề và nội dung của văn bản.

Câu 5 (1,0 điểm). Trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến: Hầu hết các bạn trẻ hoàn toàn không có ý niệm gì về việc mình muốn trở thành một người như thế nào trong tương lai.

II. PHẦN LÀM VĂN (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm)

Trong cuộc sống, nếu phải đối mặt với nỗi buồn, bạn phải làm gì để vượt qua nó?

Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi trên.

Câu 2 (4,0 điểm)

          Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ sau:

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh

Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây

Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh

Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây.

 

Anh yêu em như anh yêu đất nước

Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước

Mỗi tối anh nằm, mỗi miếng anh ăn.

(Trích Nhớ, Nguyễn Đình Thi[2], Tuyển tác phẩm văn học, Nhà in Bộ LĐTBXH, 2001)



 

 



[1] Phan Thị Thanh Nhàn sinh ngày 9/8/1943. Bà là người Hà Nội gốc, sinh ra và lớn lên tại phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Khoa báo chí Trường Tuyên giáo Trung ương, Phan Thị Thanh Nhàn về làm phóng viên thời sự của Báo Hà Nội Mới trong nhiều năm rồi bà về làm Phó Tổng biên tập Báo Người Hà Nội. Sau đó, bà giữ chức Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nhà văn Hà Nội trước khi nghỉ hưu. Thơ của bà, nhất là những bài thơ nổi tiếng như: Hương thầm, Con đường, Làm anh, Trời và Đất, Rồi có thể, Ngày tháng không quên… để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi đó là tiếng nói của một giọng thơ nữ tính, đằm thắm, dịu dàng và sâu lắng.

Hương thầm được Phan Thị Thanh Nhàn sáng tác vào mùa hoa bưởi tháng 3-1969 để ghi nhớ ngày cậu em Phan Hữu Khải (1953-1972) lên đường ra trận. Ở lớp cấp III có cô bạn thầm thương trộm nhớ cậu em ấy, nhưng chính cậu không hề biết, chỉ có người chị gái tinh ý biết được điều này. Trong cuộc thi thơ năm 1969-1970 của tuần báo Văn nghệ, bài thơ Hương thầm đoạt giải Nhì. Năm 1972, trong giai đoạn cam go của chiến dịch Quảng Trị, Hương thầm được Đài Tiếng nói Việt Nam soạn thành bản ngâm phát ra tiền phương. Chiến sĩ Phan Hữu Khải vội viết thư về để báo tin cho chị rằng đã nghe bài này, nhưng bà chưa kịp hồi âm rằng đây chính là món quà bà tặng cậu em thì Phan Hữu Khải đã hy sinh tại địa phận A Lưới.

[2] Nguyễn Đình Thi (1924-2003), thuộc thế hệ các nghệ sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông là nhà thơ tài năng và bản lĩnh sáng tạo. Thơ Nguyễn Đình Thi hàm súc và giản dị, phóng khoáng tự do, giàu nhạc điệu; đặc biệt thơ ông dạt dào cảm hứng yêu thương sâu lắng về đất nước. Bài thơ Nhớ được sáng tác năm 1954, trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

  

إرسال تعليق

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.