Đề kiểm tra Học kì 2 Ngữ Văn 10 - Năm học 2025

Web Publisher User

ĐỀ KIỂM TRA CUỐI KÌ II

NĂM HỌC: 2024 - 2025

Môn: Ngữ văn 10

Thời gian làm bài: 90 phút

(Không kể thời gian giao đề)


ĐỀ

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

Tony mở báo ra coi. Mục giải trí: scandal bầu sô ca sĩ. Mục xã hội: tin ngộ độc thực phẩm. Tin quốc tế: Nước A chết người, nước B chiến tranh. Mục thể thao: Tin mua bán độ. Tin kinh tế: Lạm phát, nhập siêu(1). Tin thời tiết: Lũ lụt, triều cường, hạn hán, bão xa bão gần... Vô hình trung, cứ mỗi buổi sáng thức dậy, bên tách cà phê, người ta mở báo và bắt đầu lo lắng. Có những lo lắng rất thật và có những lo lắng không đâu. Và cảm giác ấy theo họ suốt một ngày làm việc, dẫn đến hiệu quả sẽ kém đi, vì “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Trong khi lẽ ra mọi người nên bắt đầu ngày mới với sự hưng phấn để có năng suất lao động cao.

Cùng một cơn mưa, người tiêu cực sẽ bực mình vì phải trùm áo mưa, người lạc quan thì nghĩ đến cây cối sẽ được xanh tươi, không khí sẽ được trong lành. Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực. Cái thiện có thể sẽ thua cái ác trong một thời điểm nhưng chung cuộc sẽ chiến thắng. Cứ sau một sự cố, con người lại tìm nguyên nhân và khắc phục nó. Sau lũ lụt, phù sa sẽ làm màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. Lỗi lầm của người khác, thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều. Nói một cách khác, nếu bạn sống được 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia li, mất mát.

Trong từ Hán Việt, nguy cơ bao gồm nguy và cơ. Và đối với người có tư duy tích cực, “nguy" (problem) sẽ được họ biến thành “cơ" (opportunity). Người tích cực và lạc quan sẽ có gương mặt sáng bừng, nụ cười thường trực trên môi, sống và cháy hết mình, học tập và làm việc hết mình, dù ngày mai trời có sập.

(Theo Tony buổi sáng, “Trên đường băng – Tư duy tích cực” – NXB Trẻ 2022, tr. 36,37)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Văn bản trên bàn về vấn đề gì?

Câu 2. Kể tên 02 thao tác nghị luận được sử dụng trong văn bản.

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu “Nói một cách khác, nếu bạn sống được 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia li, mất mát”.

Câu 4. Nhận xét về thái độ của người viết đối với vấn đề nghị luận qua một số câu văn trong văn bản.

Câu 5. Lí giải về một bài học có ý nghĩa nhất đối với anh/chị sau khi đọc văn bản trên. (Viết từ 5 đến 7 dòng)

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của lối sống tích cực.

Câu 2. (4,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá bài thơ sau:

Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài
- Trần Đăng Khoa -

Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời
Đến một cái gai cũng không sống được
Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút
Đêm trong lều như trôi trong mây...

Những con chim kỳ quái thấy hơi người
Mừng rỡ quá, cánh bay như bão thốc
Chỉ tiếng cánh chim bay quanh lều nghe đã căng nhức óc
Sủi tăm dưới chân sàn, bóng mập lượn vòng quanh.

Đảo tự giấu mình trong màu nước lam xanh
Cái giọt máu thiêng dưới ngầu ngầu bọt sóng.
Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống
Bóng chúng tôi trùm khắp đảo Thuyền Chài(2)...

Đảo Thuyền Chài, 5-1978

(Dẫn theo Trần Đăng Khoa(3), “Bên cửa sổ máy bay”, NXB Tác phẩm mới, 1985)

--- HẾT ---


(1)Nhập siêu: tình trạng kim ngạch nhập khẩu lớn hơn kim ngạch xuất khẩu trong cán cân thương mại của một nước.

(2)Đảo Thuyền Chài : là một rạn san hô vòng thuộc quần đảo Trường Sa. Ở đó có ba bãi cát nhỏ, khi thủy triều xuống thì cao hơn mặt nước khoảng 0,5m, khi thủy triều lên thì ngập khoảng 1,0m.

(3)Trần Đăng Khoa là một nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam đồng thời cũng là người lính biển, đặt chân đến Trường Sa từ rất sớm và có nhiều tác phẩm hay viết về người lính, về Trường Sa như “Thư tình người lính biển”, “Lính đảo hát tình ca trên đảo”, “Cây bão táp trên đảo Nam Yết”, “Đoạn văn xuôi chép ở đảo Chìm”, “Hát về hòn đảo chìm”, “Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn”,...


Lời giải chi tiết

✅ Được giải bởi Team Ngữ Văn - TTKT Chỉ mang tính chất tham khảo

PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản trên bàn về vấn đề: Tư duy tích cực và những ảnh hưởng của nó đối với cuộc sống con người.

Câu 2. (0,5 điểm) Kể tên 02 thao tác nghị luận được sử dụng trong văn bản:

  • Thao tác lập luận giải thích (ví dụ: giải thích "nguy cơ" bao gồm "nguy" và "cơ").
  • Thao tác lập luận phân tích (ví dụ: phân tích sự khác nhau trong phản ứng của người tiêu cực và người lạc quan trước cùng một cơn mưa).

Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu “Nói một cách khác, nếu bạn sống được 100 năm, xem như là một bộ phim có 100 tập, thì hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười thay vì tập nào cũng rơi vào bi kịch chán chường, đau khổ, chia li, mất mát”:

  • Biện pháp tu từ liệt kê (kê ra hàng loạt trạng thái tiêu cực: "chán chường, đau khổ, chia li, mất mát").
  • Tác dụng:
    • Nhấn mạnh, tô đậm sự đa dạng và mức độ của những điều không may, những cảm xúc tiêu cực mà con người có thể phải đối mặt trong cuộc đời.
    • Tạo ra sự đối lập mạnh mẽ với "tiếng cười", qua đó làm nổi bật giá trị và ý nghĩa của việc lựa chọn thái độ sống lạc quan, tích cực.
    • Khiến cho lời khuyên "hãy tạo ra ít nhất 2/3 tập có tiếng cười" trở nên thuyết phục hơn, như một sự lựa chọn cần thiết để cuộc sống ý nghĩa hơn.
    • Làm cho câu văn thêm sinh động, giàu hình ảnh và tăng sức biểu cảm, tác động mạnh mẽ hơn đến nhận thức của người đọc.

Câu 4. (1,0 điểm) Nhận xét về thái độ của người viết đối với vấn đề nghị luận qua một số câu văn trong văn bản:
Qua các câu văn như "Trong khi lẽ ra mọi người nên bắt đầu ngày mới với sự hưng phấn để có năng suất lao động cao.", "Và một khi chúng ta không thể thay đổi được hiện tượng xảy ra, tốt nhất là nhìn nó bằng ánh mắt tích cực.", hay "Người tích cực và lạc quan sẽ có gương mặt sáng bừng, nụ cười thường trực trên môi, sống và cháy hết mình, học tập và làm việc hết mình, dù ngày mai trời có sập.", có thể thấy người viết thể hiện thái độ:

  • Khẳng định và đề cao: Tác giả khẳng định mạnh mẽ giá trị và sự cần thiết của tư duy tích cực.
  • Cổ vũ, động viên: Lời văn mang tính khích lệ, kêu gọi mọi người thay đổi góc nhìn, hướng đến sự lạc quan.
  • Tin tưởng: Người viết bày tỏ niềm tin vào sức mạnh của thái độ sống tích cực có thể giúp con người vượt qua khó khăn, sống ý nghĩa hơn.
  • Phê phán nhẹ nhàng: Ngầm phê phán lối suy nghĩ tiêu cực, bi quan làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và công việc.

Câu 5. (1,0 điểm) Lí giải về một bài học có ý nghĩa nhất đối với anh/chị sau khi đọc văn bản trên (Viết từ 5 đến 7 dòng):
Bài học ý nghĩa nhất đối với tôi sau khi đọc văn bản là nhận thức sâu sắc về sức mạnh của việc lựa chọn thái độ sống. Cuộc sống vốn không thể luôn màu hồng, những tin tức tiêu cực hay khó khăn là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, thay vì chìm đắm trong lo lắng, bi quan, chúng ta hoàn toàn có thể chọn cách nhìn nhận vấn đề một cách tích cực, tìm kiếm cơ hội trong thử thách ("biến nguy thành cơ"). Chính thái độ này sẽ quyết định cảm xúc, hành động và kết quả mà chúng ta nhận được, giúp bản thân sống vui vẻ, năng suất và ý nghĩa hơn.

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1. (2,0 điểm)

a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn: Đoạn văn khoảng 200 chữ. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Ý nghĩa của lối sống tích cực. (0,25 điểm)

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận (gợi ý): (0,5 điểm)

  • Giải thích ngắn gọn: Lối sống tích cực là thái độ lạc quan, yêu đời, luôn hướng đến những điều tốt đẹp, tìm kiếm giải pháp thay vì chìm đắm trong khó khăn.
  • Ý nghĩa đối với bản thân:
    • Mang lại tinh thần vui vẻ, thoải mái, giảm căng thẳng.
    • Tạo động lực, sức mạnh để vượt qua thử thách, nghịch cảnh.
    • Nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần.
    • Giúp dễ dàng đạt được thành công và hạnh phúc trong cuộc sống.
  • Ý nghĩa đối với các mối quan hệ xã hội:
    • Lan tỏa năng lượng tích cực đến những người xung quanh.
    • Xây dựng và duy trì các mối quan hệ tốt đẹp, bền vững.
  • Ý nghĩa đối với cộng đồng: Góp phần xây dựng một xã hội lạc quan, phát triển, giàu tình người.
  • Bài học nhận thức và hành động: Cần rèn luyện tư duy tích cực mỗi ngày.

d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: (0,5 điểm)

  • Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận.
  • Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
  • Trình bày rõ quan điểm hệ thống các ý.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp (nếu có); kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng.

đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. (0,25 điểm)

Gợi ý đoạn văn:
Lối sống tích cực chính là chìa khóa vạn năng mở ra cánh cửa hạnh phúc và thành công cho mỗi người. Đó không chỉ là việc mỉm cười khi vui, mà là khả năng tìm thấy ánh sáng ngay cả trong bóng tối, nhìn nhận thử thách như cơ hội để trưởng thành. Sống tích cực giúp ta có một tinh thần lạc quan, một trái tim rộng mở, từ đó giải phóng năng lượng tiêu cực, giảm bớt căng thẳng và cải thiện sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Khi đối diện với khó khăn, người có tư duy tích cực sẽ không chùn bước mà chủ động tìm kiếm giải pháp, biến "nguy" thành "cơ" như cách văn bản đã gợi mở. Hơn thế nữa, thái độ sống này còn như một làn gió mát lan tỏa đến những người xung quanh, xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và góp phần tạo nên một cộng đồng văn minh, giàu tình yêu thương. Vì vậy, rèn luyện lối sống tích cực mỗi ngày là cách chúng ta tự kiến tạo một cuộc đời ý nghĩa.

Câu 2. (4,0 điểm)

a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề (gồm nhiều luận điểm được sắp xếp logic), Kết bài khái quát được vấn đề. (0,25 điểm)

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích, đánh giá bài thơ "Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài" của Trần Đăng Khoa, làm nổi bật vẻ đẹp hình tượng người lính và tình yêu Tổ quốc, đặc biệt qua sự khắc họa chân thực cuộc sống gian khổ và ý chí kiên cường của họ. (0,5 điểm)

c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết (gợi ý): (1,0 điểm)

  • Mở bài:
    • Giới thiệu nhà thơ Trần Đăng Khoa – một giọng thơ đặc biệt, gắn bó với hình ảnh người lính và biển đảo quê hương.
    • Giới thiệu bài thơ "Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài", một tác phẩm tiêu biểu cho đề tài này, được sáng tác năm 1978.
    • Nêu vấn đề nghị luận: Bài thơ khắc họa chân thực cuộc sống gian khổ mà hào hùng của những người lính đảo, qua đó thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc và ý chí kiên cường, bất khuất.
  • Thân bài:
    • Luận điểm 1: Bức tranh chân thực về cuộc sống gian khổ, khắc nghiệt trên đảo Thuyền Chài.
      • Không gian: "Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời" -> sự bấp bênh, trơ trọi, đối mặt trực tiếp với thiên nhiên dữ dội.
      • Điều kiện sống thiếu thốn, khắc nghiệt đến tột cùng: "Đến một cái gai cũng không sống được" -> hình ảnh cực tả sự cằn cỗi, sự sống mong manh.
      • Sự thử thách của thời tiết: "Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút" (cái nắng cháy da); "Đêm trong lều như trôi trong mây..." (sự mênh mông, cô đơn, cảm giác phiêu dạt).
      • Nghệ thuật: Tả thực, lựa chọn chi tiết đắt giá, ngôn ngữ giản dị mà gợi cảm.
    • Luận điểm 2: Hình ảnh những người lính với vẻ đẹp tâm hồn và ý chí kiên cường giữa gian khó.
      • Sự xuất hiện của "những con chim kỳ quái" và phản ứng của chúng ("Mừng rỡ quá, cánh bay như bão thốc"): chi tiết độc đáo, vừa cho thấy sự hoang sơ của đảo, vừa hé lộ chút hơi ấm của sự sống, sự kết nối bất ngờ giữa con người và thiên nhiên.
      • Những âm thanh, hình ảnh đặc trưng của đảo xa: "tiếng cánh chim bay quanh lều nghe đã căng nhức óc", "Sủi tăm dưới chân sàn, bóng mập lượn vòng quanh" -> vừa dữ dội, căng thẳng, vừa có chút bí ẩn, gợi sự tò mò, nhưng cũng là những dấu hiệu của sự sống mà người lính phải đối mặt, làm quen.
      • Dù gian khổ, người lính vẫn hiện diện, vẫn bám trụ, sự có mặt của họ làm thay đổi không gian, làm chủ không gian.
    • Luận điểm 3: Tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và ý thức chủ quyền mãnh liệt.
      • Hình ảnh đảo Thuyền Chài mang ý nghĩa biểu tượng: "Đảo tự giấu mình trong màu nước lam xanh / Cái giọt máu thiêng dưới ngầu ngầu bọt sóng."
        • "Đảo tự giấu mình": vẻ đẹp khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa sức sống.
        • "Cái giọt máu thiêng": khẳng định chủ quyền máu thịt, đảo là một phần không thể tách rời của Tổ quốc. Hình ảnh ẩn dụ sâu sắc, đầy tự hào.
        • "dưới ngầu ngầu bọt sóng": gợi sự dữ dội của biển cả, sự gian nan trong việc bảo vệ chủ quyền.
      • Tiếng gọi Tổ quốc và tư thế làm chủ của người lính:
        • "Tổ quốc ơi!": Tiếng gọi tha thiết, xúc động, bật lên từ sâu thẳm trái tim.
        • "Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống": sự đối lập mà thống nhất. "Kêu lên" là tiếng lòng hướng về đất mẹ, "nhìn xuống" là cái nhìn thực tại, trách nhiệm với mảnh đất mình canh giữ.
        • "Bóng chúng tôi trùm khắp đảo Thuyền Chài": hình ảnh đầy sức mạnh, khẳng định sự hiện diện, ý chí và tầm vóc của người lính trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. "Bóng" không chỉ là hình hài mà còn là bóng của ý chí, của tinh thần làm chủ.
      • Nghệ thuật: Sử dụng từ ngữ giàu sức biểu cảm, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng, giọng thơ chuyển từ kể tả sang trữ tình chính luận hào hùng.
    • Luận điểm 4: Đánh giá chung về nghệ thuật.
      • Sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố tự sự (kể, tả cảnh sinh hoạt, sự kiện) và trữ tình (bộc lộ cảm xúc, suy tư sâu lắng, tiếng gọi Tổ quốc).
      • Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, chân thực như lời kể chuyện nhưng vẫn giàu sức gợi, giàu tính biểu cảm.
      • Hình ảnh thơ chọn lọc, có những chi tiết độc đáo, bất ngờ ("cái gai cũng không sống được", "chim kỳ quái", "giọt máu thiêng", "bóng chúng tôi trùm khắp đảo").
      • Giọng điệu thơ đa dạng: có lúc trầm lắng, suy tư khi tả cảnh gian khổ; có lúc lại tha thiết, mạnh mẽ, hào sảng khi thể hiện tình yêu nước và ý chí quyết tâm.
  • Kết bài:
    • Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
    • Bài thơ là một bức tranh chân thực về người lính đảo, đồng thời là một khúc ca về tình yêu Tổ quốc, ý chí bảo vệ chủ quyền.
    • Liên hệ ý nghĩa của tác phẩm trong việc giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ.

d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: (1,5 điểm)

  • Triển khai được ít nhất hai luận điểm để làm rõ quan điểm cá nhân (thực tế cần nhiều hơn cho một bài văn hoàn chỉnh).
  • Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận.
  • Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
  • Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, phù hợp (trích dẫn thơ); kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý lẽ và dẫn chứng.

(Lưu ý: Học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.)

đ. Diễn đạt: Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. (0,25 điểm)

e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. (0,5 điểm)

(Phần viết bài văn cụ thể sẽ dài, học sinh dựa vào dàn ý trên để triển khai)

Bài làm mẫu cho Câu 2 (Phần II):

Trần Đăng Khoa, "thần đồng thơ" một thời của văn học Việt Nam, không chỉ được biết đến với những vần thơ trong trẻo về làng quê mà còn ghi dấu ấn sâu đậm với mảng thơ về người lính và biển đảo. Sáng tác năm 1978, "Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài" là một trong những tác phẩm tiêu biểu, như một thước phim chân thực và xúc động, khắc họa cuộc sống gian khổ mà hào hùng của những người lính nơi đầu sóng ngọn gió, qua đó ngợi ca tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và ý chí kiên cường, bất khuất của họ.

Mở đầu bài thơ, hiện thực khắc nghiệt của đảo xa hiện lên không một chút tô vẽ:
"Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời
Đến một cái gai cũng không sống được"

Không gian "chung chiêng giữa nước, giữa trời" gợi ra sự bấp bênh, trơ trọi, hoàn toàn phơi mình trước sự bao la và dữ dội của thiên nhiên. Sự sống ở đây mong manh đến mức "đến một cái gai cũng không sống được" – một hình ảnh cực tả sự cằn cỗi, thiếu thốn đến cùng cực. Người lính không chỉ đối mặt với sự khắc nghiệt của không gian mà còn cả thời gian: "Sớm mở mắt, nắng lùa ngun ngút / Đêm trong lều như trôi trong mây...". Cái nắng "ngun ngút" như thiêu như đốt, còn đêm dài thì mênh mông, cô đơn, cảm giác như trôi dạt vô định. Bằng những chi tiết tả thực, ngôn ngữ giản dị mà đầy sức ám ảnh, Trần Đăng Khoa đã vẽ nên một bức tranh chân thực đến xót xa về điều kiện sống của đồng đội mình.

Giữa muôn vàn gian khó ấy, hình ảnh người lính vẫn hiện lên với những nét độc đáo, mang vẻ đẹp của sự kiên cường và một tâm hồn biết rung cảm. Sự xuất hiện của "những con chim kỳ quái" tưởng chừng là một nét hoang sơ, thêm phần cô tịch cho đảo vắng, lại được nhà thơ miêu tả với một góc nhìn đầy bất ngờ: "thấy hơi người / Mừng rỡ quá, cánh bay như bão thốc". Chi tiết này không chỉ hé lộ sự hiếm hoi bóng người nơi đây mà còn cho thấy một sự kết nối bất ngờ, một chút hơi ấm của sự sống giữa thiên nhiên khắc nghiệt. Âm thanh nơi đảo xa cũng thật đặc biệt: "Chỉ tiếng cánh chim bay quanh lều nghe đã căng nhức óc / Sủi tăm dưới chân sàn, bóng mập lượn vòng quanh." Những âm thanh, hình ảnh ấy vừa có chút dữ dội, căng thẳng, vừa có sự bí ẩn của biển cả, là những thử thách mà người lính phải đối mặt hàng ngày, hàng giờ. Nhưng chính trong sự đối mặt ấy, họ âm thầm khẳng định sự hiện diện, sự bám trụ, làm chủ không gian khắc nghiệt này.

Nổi bật trên nền hiện thực gian khổ ấy là tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và ý thức chủ quyền mãnh liệt của những người lính đảo. Đảo Thuyền Chài trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ là một thực thể địa lý mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc:
"Đảo tự giấu mình trong màu nước lam xanh
Cái giọt máu thiêng dưới ngầu ngầu bọt sóng."

"Đảo tự giấu mình" gợi vẻ đẹp khiêm nhường, lặng lẽ nhưng ẩn chứa một sức sống tiềm tàng. Đặc biệt, hình ảnh "cái giọt máu thiêng" là một ẩn dụ đắt giá, khẳng định chủ quyền máu thịt, rằng mỗi tấc đảo là một phần không thể tách rời của lãnh thổ Tổ quốc. "Giọt máu" ấy nằm "dưới ngầu ngầu bọt sóng", gợi lên biết bao gian nan, thử thách trong công cuộc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng. Để rồi, từ sâu thẳm trái tim người lính, bật lên tiếng gọi tha thiết:
"Tổ quốc ơi! Tiếng chúng tôi kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống
Bóng chúng tôi trùm khắp đảo Thuyền Chài..."

"Tổ quốc ơi!" – tiếng gọi ngắn gọn mà chứa đựng bao nhiêu tình cảm dồn nén, bao nhiêu yêu thương và trách nhiệm. Hình ảnh "kêu lên mà mắt chúng tôi nhìn xuống" là một sự đối lập mà thống nhất đầy ý nghĩa: tiếng lòng hướng về đất mẹ bao la, còn ánh mắt lại đăm đắm, vững chãi nhìn xuống mảnh đất mình đang canh giữ, với một ý thức trách nhiệm sâu sắc. Câu thơ cuối cùng "Bóng chúng tôi trùm khắp đảo Thuyền Chài" là một hình ảnh đầy sức nặng, khẳng định tư thế làm chủ, sự hiện diện vững vàng và tầm vóc của người lính trong việc bảo vệ từng tấc đất, tấc biển quê hương. "Bóng" ở đây không chỉ là hình hài vật lý mà còn là bóng của ý chí, của tinh thần thép, của quyết tâm sắt đá.

Thành công của "Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài" không chỉ nằm ở nội dung sâu sắc mà còn ở những đặc sắc nghệ thuật. Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự trong việc kể, tả cảnh sinh hoạt, và yếu tố trữ tình khi bộc lộ những cảm xúc, suy tư sâu lắng, đặc biệt là tiếng gọi Tổ quốc đầy hào sảng. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc, gần gũi như lời kể chuyện thường ngày của người lính, nhưng lại có sức gợi cảm lớn. Nhà thơ đã lựa chọn những hình ảnh thơ độc đáo, giàu tính biểu tượng như "cái gai cũng không sống được", "chim kỳ quái", "giọt máu thiêng", "bóng chúng tôi trùm khắp đảo". Giọng điệu thơ cũng linh hoạt, có lúc trầm lắng, xót xa khi tả cảnh gian khổ, có lúc lại tha thiết, mạnh mẽ, đầy tự hào khi thể hiện tình yêu nước và ý chí quyết tâm.

"Đồng đội tôi trên đảo Thuyền Chài" của Trần Đăng Khoa không chỉ là một bức tranh chân thực về cuộc sống người lính đảo những năm tháng gian khó mà còn là một khúc ca hào hùng về tình yêu Tổ quốc, về ý chí và tinh thần thép trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng. Tác phẩm đã, đang và sẽ tiếp tục khơi gợi trong lòng mỗi chúng ta niềm tự hào, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm với biển đảo quê hương, đặc biệt là với thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.

 

Đăng nhận xét

Chúng tôi rất vui khi bạn muốn đóng góp ý kiến. Để đảm bảo môi trường trao đổi lành mạnh, vui lòng tuân thủ các quy định sau:

1. Sử dụng tiếng Việt có dấu đầy đủ, tránh viết tắt.
2. Bình luận sẽ được kiểm duyệt trước khi công khai.
3. Tôn trọng người khác và đóng góp ý kiến xây dựng.
4. Tuân thủ chính sách của Google và TTKT.

Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng chúng tôi!

CẢNH BÁO

Gần đây, chúng tôi phát hiện nội dung bị chụp màn hình và chia sẻ trái phép. TTKT khuyến cáo bạn không nên chụp màn hình mà hãy chia sẻ link đến bài viết để tôn trọng tác giả và tránh bị vô hiệu hóa tài khoản.

Yêu cầu Đăng nhập

Để tiếp tục sử dụng, vui lòng đăng nhập.